Skip to Main Content
Lỗi

Cổng Thông Tin Điện Tử

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

|
  • Tin tức - sự kiện
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
    • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
    VÀ KINH DOANH VÀNG
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch thanh toán nội địa qua Internet và Mobile Bank
      • Giao dịch qua ATM,POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Kết quả điều tra
      • Điều tra trực tuyến
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
Trang chủ
  • Tin tức - Sự kiện
  • Thông cáo báo chí
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Dữ liệu thống kê
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Văn bản quy phạm pháp luật
  • Chính sách tiền tệ
    • Định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng trong năm
    • Thẩm quyền quyết định CSTT quốc gia và các công cụ thực hiện
  • Thanh toán & ngân quỹ
    • Nhiệm vụ của NHNN trong hoạt động thanh toán
    • Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế
      • Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
      • Các hệ thống thanh toán khác
    • Giám sát hệ thống thanh toán
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Hệ thống mã tổ chức phát hành thẻ
    • Biểu phí dịch vụ thanh toán qua NHNN
    • Hoạt động ngân quỹ
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Phát hành tiền
    • Đồng tiền Việt Nam
    • Tiền thật, tiền giả
    • Những hành vi bị nghiệm cấm và một số quy định về xử phạt liên quan đến phòng, chống tiền giả và bảo vệ tiền Việt Nam
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • Giới thiệu NHNN
    • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
    • Chức năng nhiệm vụ
    • Ban lãnh đạo đương nhiệm
    • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
  • Tạp chí Ngân hàng

Thâm hụt ngân sách – từ “tứ giác” đến “ngũ giác” kinh tế mục tiêu (Sô 22/2015)

18/12/2015 23:15:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Thâm hụt ngân sách – từ “tứ giác” đến “ngũ giác” kinh tế mục tiêu

TS. Hoàng Thị Lan Hương1

 

 

Xuất phát từ các giả thuyết về mối liên hệ giữa ngân sách với các biến số kinh tế vĩ mô, kết hợp với việc quan sát hai quốc gia điển hình là Brazil và Mỹ, bài viết tập trung phân tích tình hình ngân sách và cán cân vãng lai của Việt Nam. Phân tích cho thấy “thâm hụt kép” có thể tồn tại ở một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, không phải lúc nào thâm hụt thương mại cũng có thể đổ lỗi cho thâm hụt ngân sách. Ở Việt Nam, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro từ thâm hụt ngân sách luôn hiện hữu, có thể gây nên sự mất ổn định cho nền kinh tế, nhất là khi công cụ “phá giá nội tệ” đang được sử dụng trong bối cảnh nợ nước ngoài tăng cao từ sau năm 2008. Theo quan điểm của tác giả, “tứ giác kinh tế mục tiêu” cần được thay thế bằng “ngũ giác kinh tế mục tiêu”, với đỉnh thứ năm là “thâm hụt ngân sách”, thay vì chỉ tiêu “tỷ lệ đói nghèo” như hiện nay đang được sử dụng ở Việt Nam.

Giới thiệu

Từ trước tới nay, thuật ngữ “tứ giác kinh tế mục tiêu” luôn được các nhà quản lý và giới nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam sử dụng như một bộ thước đo quan trọng phản ánh sự phát triển kinh tế - xã hội, với bốn (4) đỉnh: (i) Tăng trưởng kinh tế; (ii) Lạm phát; (iii) Thất nghiệp; và (iv) Cán cân thanh toán quốc tế. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, thâm hụt ngân sách của Việt Nam đã gia tăng trở lại (Hình 7). Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tài trợ thâm hụt ngân sách bằng biện pháp tiền tệ (là việc NHTW cho Chính phủ vay) sẽ đẩy lạm phát tăng và gây áp lực cho thị trường tài chính. Cụm từ “thâm hụt kép”, hàm ý tình trạng thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại xảy ra đồng thời, đã và đang ngày càng được đề cập phổ biến ở Việt Nam và nước ngoài. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu khác, không tồn tại mối liên hệ nhân quả giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai.

Với việc tìm hiểu tác động của thâm hụt ngân sách tới các biến số kinh tế vĩ mô nói chung và cán cân vãng lai nói riêng, tác giả mong muốn bày tỏ suy nghĩ và quan điểm cá nhân về những thách thức đặt ra đối với Chính phủ Việt Nam trong việc cân đối giữa mục tiêu ngân sách với các mục tiêu quan trọng khác, đặc biệt là mục tiêu cân bằng cán cân vãng lai.

Trong bài viết này, hai quốc gia được lựa chọn làm điển hình nghiên cứu là Mỹ và Brazil. Cùng với Mexico, Argentina, và Venezuela, Brazil đã được ghi tên vào cuộc khủng hoảng nợ những năm 1970-1980. Trong hơn một thập niên đó, cán cân vãng lai của quốc gia này triền miên thâm hụt, nợ nước ngoài liên tục gia tăng (Hình 1). Trong khi đó, Mỹ nổi tiếng với “thâm hụt kép” xuất hiện từ đầu thập niên 80 (Hình 2). Tác giả lựa chọn hai quốc gia này với mục đích quan sát, từ đó tìm hiểu đằng sau sự thâm hụt kéo dài của cán cân vãng lai có phải là nợ nước ngoài (trường hợp Brazil), hay đồng nội tệ tăng giá (trường hợp Mỹ), và tất cả đều bắt nguồn từ thâm hụt ngân sách?

Hình 1: Cán cân vãng lai và nợ nước ngoài của Brazil (1972-1984)

Nguồn: International Financial Statistics và World Bank

Hình 2: Thâm hụt “kép” của Mỹ (1971-1990)

Nguồn: The U.S Government Publishing Office (GPO) và World Development Indicators (WDI)

Giả thuyết, tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Kể từ sau khủng hoảng nợ của các nước Mỹ Latinh trong thập niên 80 của thế kỷ trước, đã có khá nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và các chỉ số kinh tế vĩ mô, đặc biệt là lạm phát. Sargent (1981) đã chứng minh rằng trong điều kiện thâm hụt ngân sách, trước sau lạm phát sẽ gia tăng, ngay cả khi chính sách tiền tệ thắt chặt được áp dụng. Easterly (1993) cũng tìm thấy bằng chứng rõ ràng cho thấy việc tài trợ thâm hụt ngân sách sẽ đẩy lạm phát tăng cao trong trung hạn.

Trong nghiên cứu về tác động của thâm hụt ngân sách lên cán cân vãng lai, mô hình lý thuyết kinh điển của David Ricardo được lấy làm điểm xuất phát:

Xuất khẩu – Nhập khẩu = Tiết kiệm quốc dân – Đầu tư trong nước (1)

Trong đó:

Tiết kiệm quốc dân = Ngân sách + Tiết kiệm doanh nghiệp và tư nhân (2)

Như vậy:

Cán cân vãng lai = Ngân sách + (Tiết kiệm trong nước - Đầu tư trong nước) (3)

Nói cách khác:

Thâm hụt cán cân vãng lai = Thâm hụt ngân sách +(Đầu tư - Tiết kiệm) (4)

Hai trong số các giả thuyếtđược đặt ra về kênh tác động của thâm hụt ngân sách tới các biến số vĩ mô nói chung và cán cân vãng lai nói riêng, đó là:

Giả thuyết 1: “Thâm hụt ngân sách dẫn tới vay nợ nước ngoài tăng cao, chi phí trả lãi cao trong điều kiện nội tệ giảm giá ảnh hưởng tiêu cực tới cán cân vãng lai. Mặt khác, khan hiếm ngoại tệ đẩy ngoại tệ lên giá, chi phí nhập khẩu tăng. Trong bối cảnh xuất khẩu chưa tăng kịp, điều này sẽ đẩy cán cân vãng lai vào tình trạng thâm hụt.” (Dorbusch 1984, Easterly 1993, Blecker 1999)

Giả thuyết 2: “Thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng hình thức vay nợ trong nước, đẩy lãi suất tăng cao, nội tệ tăng giá, gây thiệt hại cho xuất khẩu và cán cân vãng lai”. (Easterly 1993)

Cuộc khủng hoảng nợ của các nước Mỹ Latinh được cho là xuất phát từ những cú sốc từ bên ngoài như giá dầu, lãi suất. Tuy nhiên, thâm hụt ngân sách và sự mất cân bằng của tỷ giá mới là nguyên nhân sâu xa của vấn đề (Dorbusch1984). Đặc biệt, trong trường hợp của Brazil, thâm hụt ngân sách được coi là nguyên do của nợ nước ngoài tăng cao. Dorbusch khẳng định tác động ngược chiều của tỷ giá (phá giá nội tệ) tại những nước có vay nợ nước ngoài: một mặt góp phần cải thiện cán cân vãng lai, mặt khác làm gia tăng thâm hụt ngân sách quốc gia. Mặc dù có đề cập tới công thức (4) nhưng Dorbusch chưa tiến hành kiểm chứng để làm rõ tác động trở lại của thâm hụt ngân sách tới cán cân vãng lai đối với trường hợp ba quốc gia được lựa chọn nghiên cứu là Chile, Argentina, và Brazil.

Lựa chọn 10 quốc gia đang phát triển bao gồm Argentina, Bờ Biển Ngà, Chile, Colombia, Ghana, Morocco, Mexico, Pakistan, Thailand, và Zimbabwe, Easterly & Schmidt- Hebbel (1993) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và thực trạng kinh tế vĩ mô. Phân tích của nhóm tác giả đã chỉ ra rằng trong trung hạn, việc tài trợ thâm hụt ngân sách đã là nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao tại các nước này. Đồng thời, thâm hụt ngân sách đã tác động tiêu cực tới cán cân vãng lai giai đoạn 1980-1990.

Thomas Ziesemer (2005) đã tập trung vào phân tích tác động của phá giá tiền tệ tới thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách đối với trường hợp Brazil. Trong thời kỳ trước 2005, phá giá đã gây ảnh hưởng mạnh tới cán cân thương mại hơn là tới cân bằng ngân sách. Tuy nhiên, riêng số liệu năm 2005 lại cho thấy phá giá nội tệ và cải thiện thâm hụt ngân sách đều không giúp phục hồi cán cân thương mại ở quốc gia này. Khi thâm hụt ngân sách được cắt giảm, lãi suất có xu hướng giảm, nhu cầu đầu tư và nhập khẩu cho đầu tư gia tăng khiến cho thâm hụt thương mại càng trầm trọng.

Có thể nói, những tranh luận xung quanh câu hỏi “Có hay không mối liên hệ nhân quả của thâm hụt ngân sách tới thâm hụt thương mại?” vẫn chưa dừng lại, cần phải được tiếp tục nghiên cứu.

Với số liệu được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IFS-IMF), Hội đồng Thống đốc thuộc Hệ thống Dự trữ Liên bang Mỹ, Phòng Thương mại Mỹ, Kho bạc Mỹ, NHTW Brazil, Bộ Công thương Việt Nam…, tác giả thực hiện phân tích dựa trên quan sát, lập luận, trên cơ sở đó trình bày quan điểm về hai giả thuyết nêu trên và những lưu ý về vấn đề thâm hụt ngân sách và tài trợ thâm hụt. Do phần lớn nguồn số liệu, đặc biệt là thâm hụt ngân sách, chỉ được cung cấp theo năm, việc áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng chưa thể thực hiện được.

Quan sát Brazil và Mỹ

Hình 3 và 4 cho thấy với diễn biến thâm hụt ngân sách và cán cân vãng lai của Brazil trong giai đoạn hậu khủng hoảng, đặc biệt giai đoạn 1981-1990 và 1997- 2004, giả thuyết về việc tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa hai chỉ tiêu này dường như được ủng hộ, mặc dù có một độ trễ nhất định của thâm hụt cán cân vãng lai so với thâm hụt ngân sách. Điều này, tuy nhiên, không còn đúng trong giai đoạn 2004-2008, khi nền kinh tế Brazil chứng kiến sự gia tăng thâm hụt ngân sách cùng lúc với sự cải thiện của cán cân vãng lai và ngược lại.

Hình 3: Thâm hụt ngân sách và cán cân vãng lai (%GDP) của Brazil (1981-1995)

 

Nguồn: www.tradingeconomics.com (NHTW Brazil)

Hình 4: Thâm hụt ngân sách và cán cân vãng lai (%GDP) của Brazil (1997-2012)

Nguồn: www.tradingeconomics.com (NHTW Brazil)

Với nước Mỹ, thực trạng nền kinh tế thời kỳ 2006-2010 (Hình 5) cho thấy không tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hai chỉ tiêu quan trọng này: trong khi ngân sách được cải thiện thì cán cân vãng lai thâm hụt sâu hơn. Tuy nhiên, từ 2010 tới nay, mức độ thâm hụt của cả ngân sách và cán cân vãng lai đều có xu hướng giảm, cho thấy sự cần thiết tiếp tục nghiên cứu vấn đề này.

Hình 5: Cán cân vãng lai và thâm hụt ngân sách của Mỹ (2006-2014)

Nguồn: www.tradingeconomics.com (US Treasury và US Bureau of Economic Analysis)

Quay trở lại với nhận định “thâm hụt kép” của nền kinh tế Mỹ cho thời kỳ 1980-1987, quan sát Hình 6 ta có thể thấy, sự lên giá mạnh của đồng đôla, xuất phát từ hoạt động đầu cơ và khủng hoảng nợ Châu Mỹ Latinh, là nguyên nhân trực tiếp khiến cán cân vãng lai thâm hụt sâu trong giai đoạn này.

Hình 6: Cán cân vãng lai và chỉ số giá đôla Mỹ (1980-1990)

Nguồn: Board of Governors of The Federal Reserve System (US)

Như vậy, tác động cùng chiều của thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai của cả hai quốc gia Brazil và Mỹ đều chưa rõ ràng. Vậy ở Việt Nam, mối liên hệ này có tồn tại hay không?

Việt Nam

Quan sát Hình 7 ta thấy, nhìn chung, trong giai đoạn 1996- 2014, dường như không tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai. Đặc biệt, từ năm 2007 đến 2012, trong khi thâm hụt ngân sách có xu hướng gia tăng thì nền kinh tế Việt Nam lại chứng kiến sự phục hồi mạnh mẽ của cán cân vãng lai, mặc dù sự hồi phục này gần đây đang có dấu hiệu chững lại. Tuy nhiên, liệu có quá sớm khi kết luận thâm hụt vãng lai không chịu tác động của thâm hụt ngân sách?

Hình 7: Thâm hụt ngân sách và cán cân vãng lai của Việt Nam (1996-2014)

Nguồn: ADB

Như đã đề cập ở phần đầu của bài viết, theo giả thuyết 1, một trong những kênh chuyển tải tác động của ngân sách tới cán cân vãng lai là nợ nước ngoài, khi những khoản thanh toán lãi vay nước ngoài được hạch toán vào cán cân vãng lai. Hình 8 cho thấy tỷ lệ nợ nước ngoài của Việt Nam, sau một thời gian dài luôn thấp hơn so với các nước trong khu vực, đặc biệt là với Philippines và Indonexia, đã tăng vượt trong giai đoạn 2009- 2012.

Hình 8: Nợ nước ngoài/GNI của 5 nước ASEAN (1996-2014)

 

Nguồn: Asian Development Bank (ADB)

Hình 9: Thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài của Việt Nam(1996-2014)

 

Nguồn: Asian Development Bank (ADB)

Hình 9 phản ánh sự tồn tại tác động thuận chiều của thâm hụt ngân sách tới nợ nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn 2001- 2009, nghĩa là, sự cải thiện của ngân sách quốc gia đi kèm với việc bớt lệ thuộc vào nợ nước ngoài, và sau đó, khi ngân sách thâm hụt sâu vào năm 2009, nợ nước ngoài bắt đầu “tăng tốc”. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2009- 2012, khi nợ nước ngoài tăng cao trở lại, mối quan hệ này chưa thực sự rõ ràng.

Xem xét tương quan nợ nước ngoài và cán cân vãng lai ở Hình10 ta thấy, thâm hụt sâu của cán cân vãng lai giai đoạn 2006-2008 không phải là hệ quả truyền dẫn của thâm hụt ngân sách qua kênh nợ nước ngoài. Sẽ có lý hơn khi ta nhìn nhận đó là kênh lạm phát, khi mức tăng cung tiền xấp xỉ 50% năm 2007 (Hình 11), và lạm phát năm lên tới 20% năm 2008 (Nguồn: ADB và NHNN Việt Nam).

Hình10: Nợ nước ngoàivà cán cân vãng lai của Việt Nam (1996-2014)

Nguồn: ADB

Hình 11: Thâm hụt ngân sách, mức tăng cung tiền và lãi suấtcủa Việt Nam (1996-2014)

Nguồn: Asian Development Bank (ADB)

 

Năm 2009, thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài đều bắt đầu tăng mạnh, tuy nhiên, cán cân vãng lai lại cải thiện mạnh mẽ. Điều này có thể được lý giải như sau: những khoản nợ nước ngoài của 2009-2012 chưa đến kỳ hạn trả nợ gốc và lãi, hoặc nếu có thì số lãi thanh toán là không lớn (Hình 12), đồng thời thương mại Việt Nam đang hưởng lợi từ sự ổn định của tỷ giá. Rõ ràng, thực tế Việt Nam giai đoạn 2005-2014 chưa cung cấp đủ bằng chứng thuyết phục để có thể ủng hộ giả thuyết số 1 về kênh truyền dẫn tác động của thâm hụt ngân sách tới cán cân vãng lai qua nợ nước ngoài.

Hình 12: Thanh toán lãi vay nước ngoài và cán cân vãng lai của Việt Nam

Nguồn: World Bank

Về tác động của thâm hụt ngân sách tới lãi suất, như thể hiện ở Hình 11, quan sát giai đoạn 1998-2003 ta có thể nhận thấy khi thâm hụt ngân sách bắt đầu gia tăng vào năm 1998, mức tăng cung tiền ngay lập tức tăng theo (1999) và sau đó cán cân vãng lai đã trở nên xấu đi, tuy nhiên, lãi suất không tăng, ngược lại có xu hướng giảm. Năm 2009, khi thâm hụt ngân sách được cải thiện thì cán cân vãng lai phục hồi, mức tăng cung tiền có xu hướng giảm, tuy nhiên, lãi suất lại tăng cao trở lại. Đến 2012, thâm hụt ngân sách tăng mạnh, cán cân vãng lai bắt đầu thể hiện sự kém bền vững, mức tăng cung tiền tiếp tục giảm và lãi suất ngày càng đi xuống.

Như vậy, quan sát trên không ủng hộ giả thuyết: thâm hụt ngân sách ảnh hưởng tới cán cân vãng lai qua kênh lãi suất. Điều này có thể được lý giải: (i) do sự cứng nhắc, còn mang nặng tính hành chính của công cụ lãi suất ở Việt Nam; và (ii) việc tài trợ thâm hụt ngân sách đã có những thời kỳ được thực hiện qua kênh tiền tệ (1999 và 2007 - Hình 11), trực tiếp gây áp lực lên lạm phát.

Bàn luận

Từ những quan sát và phân tích ở trên, có thể khẳng định rằng sự thiếu bền vững của cán cân vãng lai ở Việt Nam không nên được đổ lỗi cho riêng thâm hụt ngân sách. Lãi suất và nợ nước ngoài chưa đủ cơ sở thuyết phục để được thừa nhận là kênh chuyển tải tác động của thâm hụt ngân sách tới cán cân vãng lai.

Ba bức tranh khái quát về ba quốc gia cho thấy cần xem xét lại đẳng thức (4), đặc biệt cần chú ý tới sự thay đổi của hai thành phần Tiết kiệm và Đầu tư nội địa.Yếu tố tiết kiệm và đầu tư ở Việt Nam, trong đó đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nhằm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa được sản xuất trong nước, là điều cần quan tâm. Việt Nam không nên lệ thuộc vào biện pháp “phá giá nội tệ” bởi tính chất hai mặt của công cụ này, khi khả năng tác động tiêu cực “nhập khẩu lạm phát” lấn át ảnh hưởng tích cực “cạnh tranh xuất khẩu” là rất lớn (Hoàng Thị Lan Hương, 2013).

Mặt khác, việc tài trợ thâm hụt ngân sách bằng biện pháp tiền tệ hoặc vay nợ nước ngoài là điều cần được cân nhắc, bởi điều này, mặc dù không trực tiếp, đã, đang và sẽ ảnh hưởng tới sự ổn định tiền tệ và sự ổn định của cán cân vãng lai khi đồng nội tệ giảm giá và các khoản vay đến hạn thanh toán gốc và lãi (chi phí trả gốc và lãi bằng ngoại tệ tăng cao). Chính vì vậy, tác giả khẳng định sự cần thiết đưa chỉ tiêu “thâm hụt ngân sách” vào “ngũ giác kinh tế mục tiêu” của Việt Nam.

Bức tranh tổng thể phản ánh năm chỉ tiêu quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong suốt gần 20 năm qua được biểu diễn qua Hình 13. Để có được cái nhìn trực quan hơn về từng thời kỳ, tác giả đã phác họa 5 đỉnh của “ngũ giác kinh tế” Việt Nam trong các Hình 14-17.

Hình 13. Kinh tế Việt Nam giai đoạn 1996-2014 (Nguồn: ADB)

Hình 14. “Ngũ giác” Kinh tế Việt Nam giai đoạn 1996-2000

 

 

Nguồn: ADB

Hình 15. “Ngũ giác” Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001-2005

Nguồn: ADB

Hình16. “Ngũ giác” Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006-2010

Nguồn: ADB

Trong giai đoạn 1996-2000 và 2000-2005, mức độ thâm hụt trung bình của cán cân vãng lai và ngân sách gần như ngang bằng (xấp xỉ 2% GDP), các yếu tố khác như tăng trưởng, lạm phát và thất nghiệp đều ở mức khá tốt.

Sang giai đoạn 2006-2010, hình dạng của “ngũ giác” đã thay đổi, với sự thâm hụt sâu của cán cân vãng lai và đồng thời sự gia tăng gánh nặng lạm phát. Đây là giai đoạn vô cùng khó khăn và chứa đựng đầy sự bất ổn của kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, không thể đổ lỗi cho thâm hụt ngân sách, bởi trong 3 năm đầu (2006, 2007, 2008) mức thâm hụt này là khá thấp.

“Ngũ giác” của giai đoạn 2011-2014 thể hiện tín hiệu vui của nền kinh tế Việt Nam khi đỉnh Cán cân vãng lai đã vươn lên và cách xa đỉnh Thâm hụt ngân sách (Hình 17).

Hình 17. “Ngũ giác” Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2014

Nguồn: ADB

Tuy nhiên, thặng dư cán cân vãng lai có thật sự bền vững hay không vẫn là điều chưa thể khẳng định. Đặc biệt, sự phục hồi của cán cân vãng lai đang có dấu hiệu chững lại, khi thâm hụt thương mại, tính đến hết nửa đầu 2015, đã quay trở lại sau 3 năm thặng dư (Hình 18). Nếu điều này tiếp tục kéo dài, việc xem xét lại mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách với thâm hụt vãng lai, từ đó nhận diện nguy cơ xảy ra thâm hụt kép ở Việt Nam, là điều hết sức cần thiết.

Hình 18: Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam (2014-2015)

 

Nguồn: International Financial Statistics (IFS)

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Barro, Robert J. (1989), “The Ricardian Approach to Budget Deficits”,The Journal of Economic Perspective, Vol.3, No.2, 37-54.

2. Blecker, Robert A. (1999), “The Causes of the U.S. Trade Deficit”,Trade Deficit Review Commission.

3. Dorbusch, R. (1984), “External debt, budget deficitandexchangeratesdisequilibrium”,National Bureau of Economic Research Working Paper Series, No.1336.

4. Easterly,William & Klaus Schmidt-Hebbel (1993), “Fiscal Deficits and Macroeconomic Performance in Developing Countries”, The World Bank Research Observer, Vol.8, No. 2, pp. 211- 237.

5. Helkie, William L. & Peter Hooper (1987), “An Empirical Analysis of the External Deficit”,International Finance Discussion Papers, No. 304.

6. Hoàng ThịLanHương(2013), “Hoànthiệnchính sách tỷ giá ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020”, Luận văn Tiến sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân.

7. Sargent,Thomas J. & Neil Wallace (1981), “SomeUnpleasantMonetaristArithmetic”,Quarterly Review, Federal Reserve Bank of Minneapolis.

8. Ziesemer, Thomas (2005), “How to cure the trade balance? Reducing budget deficits versus devaluations in the presence of J- and W-curves for Brazil”, No.019, Maastricht Economic Research on Innovation and Technology.

 

1 Viện Ngân hàng – Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân

 


  • aA
  • Các chuyên mục:
  • Tạp chí Ngân hàng
CÁC TIN KHÁC
GenAI - Tương lai cá nhân hóa dịch vụ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
23/04/2025
Chuyển đổi hệ thống ngân hàng trong tiến trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm và khuyến nghị chiến lược
18/04/2025
Khung pháp lý cho phát triển ngân hàng bền vững - Cơ hội và thách thức
10/04/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách nhà đầu tư cá nhân đến hiệu quả đầu tư cổ phiếu và một số khuyến nghị
31/03/2025
Phát triển kinh tế xanh của Đan Mạch và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
28/03/2025
Phát triển kinh tế tuần hoàn: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam
28/03/2025
Chiến lược ưu tiên thiết bị di động trong hoạt động ngân hàng
28/03/2025
Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm
18/03/2025
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong an ninh mạng để bảo vệ dữ liệu và tài sản lĩnh vực tài chính - ngân hàng
18/03/2025
Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
18/03/2025
Đang hiển thị 1 đến 10 của 1223
  • 1
  • 2
  • 3
  • 123
Giới thiệu NHNN
  • Sơ lược quá trình thành lập và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ
  • Ban lãnh đạo đương nhiệm
  • Lãnh đạo NHNN qua các thời kỳ
CPI
Lãi suất
Dự trữ bắt buộc
Hoạt động thị trường tiền tệ
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Thông tin chào bán tín phiếu NHNN
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
    • Thông báo đấu thầu
    • Kết quả đấu thầu
  • Giấy mời tham gia đấu thầu vàng
Cải cách hành chính
  • Tin tức CCHC
  • Bản tin CCHC nội bộ
  • Văn bản CCHC
  • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
  • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
  • Danh mục điều kiện kinh doanh
  • Danh mục báo cáo định kỳ
  • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
  • Đào tạo ISO
Dịch vụ công trực tuyến
Hoạt động khác
  • Đầu tư, đấu thầu
    • Thông tin đấu thầu
    • Các dự án đang chuẩn bị đầu tư
    • Các dự án đang triển khai
    • Các dự án đã hoàn tất
  • Tài chính vi mô tại Việt Nam
  • Ổn định tài chính
    • Giới thiệu
      • Ổn định tài chính và vai trò của ổn định tài chính
      • Vai trò của NHTW đối với ổn định tài chính
    • Báo cáo chuyên đề về ổn định tài chính
  • Hợp tác quốc tế
    • Quan hệ với ADB
    • Quan hệ với IMF
    • Quan hệ với IBEC - IIB
    • Quan hệ với WB
    • Quan hệ với AIIB
    • Quan hệ với BIS
    • Quan hệ song phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác song phương
      • Khu vực châu Á
      • Khu vực châu Âu
      • Khu vực châu Mỹ
      • Khu vực châu Phi
      • Khu vực châu Đại Dương
    • Quan hệ đa phương
      • Tổng quan về hoạt động hợp tác đa phương
      • Giới thiệu tổ chức APEC
      • Giới thiệu tổ chức ASEM
      • Giới thiệu tổ chức WTO
      • Giới thiệu tổ chức ASEAN
      • Giới thiệu SEACEN
  • Công nghệ thông tin
    • Chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong hoạt động ngân hàng
    • Hỗ trợ kỹ thuật
    • An toàn thông tin
      • Danh sách đầu mối ứng cứu sự cố ANTT
      • Hoạt động mạng lưới ứng cứu sự cố ANTT
      • Văn bản chính sách ANTT
      • Tài liệu tuyên truyền nâng cao nhận thức ANTT
  • Hoạt động khoa học công nghệ
    • Các chương trình đề tài
    • Kết quả các chương trình, đề tài
    • Hợp tác nghiên cứu
    • Dịch vụ khoa học công nghệ
    • Chiến lược phát triển ngành ngân hàng
  • Tổ chức cán bộ
    • Tuyển dụng
  • Thi đua khen thưởng
    • Văn bản về thi đua khen thưởng
    • Công tác thi đua khen thưởng
    • Lấy ý kiến nhân dân đối với tập thể, cá nhân được đề nghị khen thưởng cấp nhà nước
  • Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành CSTT quốc gia
  • Hoạt động Tổ chức tín dụng
  • Hoạt động đoàn thể
  • Tài chính kế toán
    • Chế độ kế toán của NHNN
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý tài chính, tài sản của NHNN
      • Văn bản
      • Tình hình triển khai
    • Chế độ kế toán của TCTD
      • Văn bản quy phạm pháp luật
      • Văn bản hướng dẫn
    • Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
  • Các chính sách của NHNN
  • Các chính sách của TCTD
  • Giải đáp chính sách
  • Hỗ trợ pháp lý cho DNVVN
NHNN với Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời đại biểu Quốc hội và cử tri
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
  • Thống đốc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo tỉnh, thành phố
    • Thống đốc trả lời kiến nghị cử tri theo nhóm vấn đề
  • Hoạt động về công tác Quốc hội
  • Báo cáo, giải trình
    • Báo cáo của NHNN
    • Giải trình của NHNN
  • Tài liệu tham khảo
    • Nghị quyết của Quốc hội
    • Báo cáo tại các Kỳ họp của Quốc hội
    • Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Liên hệ
Công bố thông tin của Doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành Ngân hàng
  • Danh sách Doanh nghiệp do NHNN quản lý và phần vốn góp tại Doanh nghiệp
  • Thông tin định kỳ
    • Chiến lược phát triển của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm của doanh nghiệp
    • Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển hằng năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm và 03 năm gần nhất tính đến năm báo cáo
    • Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có)
    • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
    • Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm
    • Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp
    • Báo cáo tài chính 06 tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
    • Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp
    • Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hằng năm
  • Thông tin bất thường
Hệ thống các TCTD
  • Ngân hàng
    • Ngân hàng thương mại
      • NHTM Nhà nước
      • NHTM Cổ phần
      • Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
      • Ngân hàng liên doanh
    • Ngân hàng Chính sách xã hội
    • Ngân hàng Hợp tác xã
  • TCTD phi ngân hàng
    • Công ty tài chính
    • Công ty cho thuê tài chính
    • TCTD phi ngân hàng khác
  • Tổ chức tài chính vi mô
  • Quỹ tín dụng nhân dân
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  • Văn phòng đại diện
Chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm
  • Cơ chế, chính sách tín dụng, các chương trình, gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
  • Chương trình khác
    • Kết quả triển khai
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
    • Văn bản chỉ đạo, điều hành
    • Kết quả triển khai
Phổ biến kiến thức
  • Phổ biến kiến thức pháp luật
  • Các nội dung phổ biến kiến thức cộng đồng
    • Tiền Việt Nam - những điều bạn nên biết
      • Phát hành và điều hòa tiền mặt
      • Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông
      • Tiền đình chỉ lưu hành
      • Phân biệt tiền thật, tiền giả
      • Bảo vệ tiền Việt Nam
    • Các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
      • Một số thông tin về thẻ ngân hàng
      • Những điều cần biết khi giao dịch qua ngân hàng điện tử
Tiếp cận thông tin
  • Danh mục thông tin công khai
  • Thông tin về đầu mối cung cấp thông tin cho công dân
  • Địa chỉ tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng điện tử
  • Các mẫu phiếu sử dụng trong cung cấp thông tin
  • Hướng dẫn yêu cầu cung cấp thông tin
Thanh Tìm kiếm
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
TIN ẢNH
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Ấn tượng ngành Ngân hàng tại Triển lãm thành tựu Đất nước "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
Icon

Danh bạ liên hệ

Icon

Phản ánh kiến nghị

Icon

Đường dây nóng

Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© cổng thông tin điện tử ngân hàng nhà nước việt nam
Địa chỉ: 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Thường trực Ban biên tập: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
Số điện thoại tổng đài Ngân hàng Nhà nước: (84 - 243) 936.6306
Đầu mối tiếp nhận thông tin về sự cố an toàn thông tin: số điện thoại: (+84) 84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready