Tại hội thảo Hoạt động quản lý, điều hành CSTT giai đoạn 2011 – 2015 và những tác động đối với nền kinh tế do Báo Lao động và trường Đại học Kinh tế quốc dân tổ chức ngày 17/12, các chuyên gia đã đưa ra cái nhìn toàn cảnh, những mặt được và bài học kinh nghiệm về điều hành CSTT của NHNN.
Thành công lớn nhất là kiểm soát được lạm phát
Đức Nghiêm
Tại hội thảo Hoạt động quản lý, điều hành CSTT giai đoạn 2011 – 2015 và những tác động đối với nền kinh tế do Báo Lao động và trường Đại học Kinh tế quốc dân tổ chức ngày 17/12, các chuyên gia đã đưa ra cái nhìn toàn cảnh, những mặt được và bài học kinh nghiệm về điều hành CSTT của NHNN.
Lãi suất giảm, tăng tín dụng hợp lý
GS-TS. Trần Thọ Đạt - Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng, giai đoạn 2011-2015, trong bối cảnh những bất ổn kinh tế vĩ mô phát sinh, đặc biệt là vấn đề lạm phát và những rủi ro đối với hệ thống tài chính - ngân hàng, với vai trò là một cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ, NHNN đã nỗ lực chèo lái hoạt động tiền tệ và ngân hàng vượt qua những bất ổn, đảm bảo sự ổn định và an toàn của hệ thống. NHNN đã thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn 2011-2015.
Nhờ việc triển khai đồng bộ, mạnh mẽ và kiên quyết các giải pháp hợp lý và tuân thủ đúng pháp luật, sự kiên trì với mục tiêu đã đề ra, trong giai đoạn 2011-2015, ngành Ngân hàng Việt Nam đã thu được những thành công được xã hội đồng thuận, ghi nhận và đánh giá cao. Đó là, đảm bảo sự ổn định và an toàn của hệ thống; thiết lập được kỷ luật và kỷ cương của thị trường; nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của các chính sách và công cụ điều hành; tích cực hội nhập quốc tế thông qua việc từng bước áp dụng các thông lệ, chuẩn mực quốc tế trong xây dựng khuôn khổ chính sách và điều hành; và thiết lập các điều kiện nền tảng cho phát triển bền vững của hệ thống.
Nhìn từ góc độ lãi suất, PGS - TS. Đặng Ngọc Đức – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tài chính – Ngân hàng phân tích: Để ổn định kỳ vọng giá trị VND, trần lãi suất huy động được quy định cho cả tiền gửi VND và USD. Trong đó, mức lãi suất huy động tối đa bằng USD luôn ở mức thấp hơn nhiều so với mức lãi suất huy động VND. Đồng thời, trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực, ngành kinh tế trọng điểm được quy định thấp hơn khoảng 2 - 3%/năm so với lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường, từng bước giảm lãi suất này từ mức 15%/năm xuống 7%/năm. Khi mặt bằng lãi suất đã giảm, ổn định, từ giữa năm 2012, để giảm mức độ sử dụng các biện pháp hành chính trong điều hành lãi suất, NHNN đã từng bước cho phép các TCTD được quyền chủ động quyết định lãi suất huy động trên cơ sở cung – cầu vốn thị trường. Việc ổn định mặt bằng lãi suất, đặc biệt là lãi suất ngắn hạn đã tạo điều kiện để NHNN áp dụng trần lãi suất cho vay với 5 nhóm đối tượng ưu tiên (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao).
PGS - TS. Đặng Ngọc Đức cho rằng, giai đoạn vừa qua NHNN đã điều hành tăng trưởng tín dụng hợp lý, đạt được mục tiêu điều hành, phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm. Năm 2011, NHNN nhanh chóng phải áp dụng các chính sách chặt chẽ để kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng từ mức trên 30%/năm xuống còn trên 14%/năm để hỗ trợ cho công tác kiểm soát lạm phát. Ngay trong năm 2012 khi tăng trưởng tín dụng có dấu hiệu “ngưng trệ”, tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu suy giảm, NHNN đã nhanh chóng thay đổi mục tiêu điều hành. Kết hợp với nhiều giải pháp quản lý hoạt động ngân hàng khác, tăng trưởng tín dụng đã theo hướng thận trọng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế theo nguyên tắc đảm bảo chất lượng tín dụng, hạn chế phân bổ vốn vào khu vực không khuyến khích. “Ngoài ra, tăng trưởng cung tiền và tín dụng kể từ năm 2012 đến nay không tạo áp lực tăng lạm phát như những thời kỳ trước đó do đã được tập trung hướng vào các lĩnh vực sản xuất trọng tâm của nền kinh tế” – ông Đức nhấn mạnh.
Đồng tình với các ý kiến trên, TS. Trương Văn Phước – Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia nhấn mạnh, lạm phát thấp, ổn định kinh tế vĩ mô là thành công lớn nhất của điều hành CSTT trong 5 năm qua. Cách đây 7 tháng, nếu nói GDP năm 2015, tăng 6,5% còn bị “ném đá” thì nay đã thành hiện thực. Điều đó nói lên rằng phân bổ vốn tác động cho tăng trưởng GDP là rất lớn. “Nói như vậy để thấy rằng vai trò quan trọng của CSTT đóng góp vào tăng trưởng GDP” – ông Phước kết luận. Ở góc nhìn khác, ông Phạm Xuân Hòe – Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng đưa ra những thành công quan trọng trong điều hành CSTT giai đoạn vừa qua: CSTT đóng góp quan trọng vào kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; bình ổn thị trường vàng – xóa vàng hóa trên bảng cân đối của TCTD, góp phần ổn định thị trường ngoại tệ. Việc NHNN điều hành tỷ giá theo hướng ổn định có tịnh tiến mức giảm giá VND hàng năm, cũng đã lường đón một phần sự biến động của các đồng tiền trong khu vực và các ngoại tệ mạnh. NHNN đã có nhiều cải tiến trong điều hành chính sách và chương trình tín dụng đối với nền kinh tế (kết nối NH-DN, gói tín dụng bất động sản, chương trình tín dụng nông nghiệp, xuất khẩu)…
Những khó khăn, thách thức nào đang chờ?
Các chuyên gia tại hội thảo cho rằng, những thành công của giai đoạn 2011 – 2015 sẽ tạo tiền đề cho điều hành CSTT thời gian tới. Tuy nhiên, những cảnh báo về khó khăn, thách thức, trong năm 2016 cũng được các chuyên gia đặt ra. Theo TS. Lê Xuân Nghĩa – Viện trưởng Viện Nghiên cứu BIB, lãi suất cho vay của NH sẽ rất khó giảm khi lãi suất của trái phiếu Chính phủ (TPCP) vẫn ở mức cao. “Hiện nay, lạm phát ở Việt Nam và Mỹ tương đương nhau, nhưng lãi suất ở Mỹ thì bằng một nửa chúng ta. Nếu chúng ta giảm lãi suất cho vay doanh nghiệp xuống nữa thì lo ngại sẽ gặp bẫy thanh khoản” – ông Nghĩa phân tích.
Bên cạnh đó, chỉ số CDS (đánh giá mức độ rủi ro của việc nắm giữ TPCP Việt Nam) đang ở mức 270 điểm là điều rất đáng ngại. Và khi chỉ số này ở mức từ 270 – 300 điểm thì xuất hiện lo ngại lãi suất TPCP tăng. Ngoài ra, theo các chuyên gia, lãi suất sẽ khó giảm do chi phí hoạt động trên tổng chi phí của ngân hàng tăng từ 16% đến 23%, trong khi chỉ số này ở các nước khu vực chỉ khoảng 11-14%. “Không phải các NH của Việt Nam quản lý yếu kém mà chỉ số này tăng là do nợ xấu” – ông Nghĩa nói.
Còn theo ông Phạm Xuân Hòe, dư địa chính sách tài khóa còn rất ít, từ diễn biến năm 2015 thì tín dụng 2016 không thể vượt qua 23%. Lãi suất VND sẽ chịu nhiều áp lực. Cam kết đưa bội chi ngân sách về 4% là khó khăn cho chính sách tài khóa và tạo áp lực đến CSTT. Đặc biệt, những rủi ro chính trị, tài chính toàn cầu, chính sách điều hành của NHTW các nước lớn tác động lan tỏa dễ tổn thương lên hệ thống tài chính trong nước và áp lực lớn cho thiết kế điều hành CSTT. Thách thức nữa là quy mô tài chính của hệ thống NH còn nhỏ, chất lượng quản trị công ty còn hạn chế trong bối cảnh hội nhập. Không đi sâu vào vấn đề lãi suất hay tỷ giá, PGS - TS. Đặng Ngọc Đức cho rằng, trong giai đoạn tới, điều hành CSTT nên giảm dần can thiệp hành chính, tăng cường sử dụng các công cụ điều hành gián tiếp để giảm chi phí nhưng mang lại hiệu quả cao hơn.