Trong giai đoạn 2011-2015, ngành Ngân hàng đã chủ động, nỗ lực đẩy mạnh cải cách và mở cửa dịch vụ tài chính – ngân hàng trước yêu cầu phát triển kinh tế trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tiến hành sửa đổi, bổ sung và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng theo hướng minh bạch hóa chính sách, tuân thủ theo các nguyên tắc thị trường và các cam kết quốc tế. Điển hình là trong việc xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn Luật NHNN, Luật các TCTD, Pháp lệnh Ngoại hối, Luật Công cụ chuyển nhượng, Luật Phòng chống rửa tiền....
NHNN cũng tiến hành nghiên cứu, xây dựng khung pháp lý cho các mô hình TCTD mới, các tổ chức hỗ trợ hoạt động của các TCTD nhằm kiện toàn và phát triển hệ thống các TCTD, kể cả các tổ chức tài chính phi ngân hàng.
NHNN đã chủ động hoàn thiện các cơ chế, chính sách và qui định về thanh toán nhằm mở rộng các hình thức thanh toán qua ngân hàng, hiện đại hóa hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng trên phạm vi toàn quốc, làm cơ sở hình thành hệ thống thanh toán quốc gia thống nhất và an toàn, tiến tới tự động hóa hoàn toàn hệ thống thanh toán qua ngân hàng.
Đổi mới điều hành chính sách tiền tệ
Từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), NHNN đã chủ động nâng cao năng lực điều hành và thực thi chính sách tiền tệ, đổi mới cơ chế kiểm soát tiền tệ, lãi suất, tỉ giá theo nguyên tắc thị trường. Việc điều hành chính sách tiền tệ đã được chuyển dần từ điều hành bằng các công cụ trực tiếp sang điều hành bằng các công cụ gián tiếp, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Từ cuối năm 2011, việc điều hành CSTT đã được đổi mới mạnh mẽ theo hướng chủ động, dẫn dắt thị trường, từng bước chuyển từ cơ chế điều tiết theo khối lượng sang điều hành theo giá cả/lãi suất và tiếp tục hoàn thiện các công cụ CSTT nhằm nâng cao hiệu quả điều tiết thị trường.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thanh tra giám sát ngân hàng
Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng ngày càng được đổi mới và phát triển; góp phần quan trọng vào việc xử lý các TCTD yếu kém và triển khai các giải pháp xử lý những rủi ro, tăng cường năng lực tài chính, cải thiện hệ thống quản trị rủi ro của TCTD. Nhờ đó, tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh, sự an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD từng bước được cải thiện, số lượng các TCTD yếu kém giảm dần, nguy cơ đổ vỡ, gây mất an toàn hệ thống đã được đẩy lùi.
Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán
Các ngân hàng thương mại (NHTM) đã đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, phát triển mạng diện rộng và hệ thống công nghệ thông tin với các giải pháp kỹ thuật và phương tiện truyền thông thích hợp. Nhiều sản phẩm mới về dịch vụ ngân hàng ra đời như dịch vụ ngân hàng bán lẻ, ngân hàng đầu tư, dịch vụ thanh toán và quản lý tài sản. Hàng loạt chương trình phần mềm ứng dụng trong quản trị ngân hàng hiện đại đã được các NHTM Việt Nam áp dụng, nhiều sản phẩm bắt kịp thế giới như mPOS, Internet banking, Mobile banking, công nghệ thẻ Chip.
Cơ sở hạ tầng và công nghệ thanh toán không dùng tiền mặt được chú trọng đầu tư và phát huy hiệu quả, đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng cao của nền kinh tế. Hầu hết các NHTM đã thiết lập được hệ thống ngân hàng lõi (core banking), phát triển hệ thống thanh toán nội bộ với kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, cho phép các NHTM cung ứng các dịch vụ, phương tiện thanh toán hiện đại, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Các dịch vụ, phương tiện thanh toán hiện đại, nhất là dịch vụ ATM phát triển mạnh. Các tổ chức chuyên cung cấp các giải pháp trung gian, hỗ trợ dịch vụ thanh toán đã được hình thành và sự liên kết giữa các tổ chức này với ngân hàng, công ty viễn thông đang ngày càng phát triển. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hình thành từ giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt đã có bước phát triển vượt bậc, điển hình là sản phẩm thẻ.
Đẩy mạnh tái cơ cấu các TCTD
Việc mở cửa thị trường và sự hiện diện theo lộ trình của các TCTD nước ngoài đã làm gia tăng cạnh tranh trong việc mở rộng thị phần, gây sức ép rất lớn lên hệ thống ngân hàng Việt Nam và buộc các TCTD Việt Nam phải đẩy mạnh tái cơ cấu cả về tổ chức, năng lực quản trị kinh doanh và tiềm lực tài chính, chủ động thực hiện các biện pháp nâng cao sức cạnh tranh của dịch vụ ngân hàng, năng lực quản trị rủi ro và minh bạch hóa hoạt động ngân hàng.
Thực hiện Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011- 2015 tại Quyết định 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ, ngành Ngân hàng đã tiến hành cơ cấu lại hệ thống các TCTD theo đúng mục tiêu, lộ trình, giải pháp đề ra, từng bước nâng cao chất lượng hoạt động, đáp ứng có hiệu quả nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế.
Sau 4 năm thực hiện tái cơ cấu các TCTD đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, cụ thể là: An toàn hệ thống các TCTD được bảo đảm; niềm tin của người gửi tiền, nhà đầu tư vào hệ thống ngân hàng tăng lên; năng lực tài chính của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cải thiện đáng kể. Đến cuối tháng 11/2015 tỷ lệ nợ xấu của các TCTD giảm mạnh chỉ còn 2,72%; giảm được 19 TCTD yếu kém thông qua việc hợp nhất, sáp nhập, mua lại. Sau hợp nhất, sáp nhập các TCTD đều hoạt động ổn định, kinh doanh bắt đầu có lãi, năng lực tài chính và quản trị rủi ro được tăng cường.
Tóm lại, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã tích cực cải cách để hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế, kịp thời đối phó với những biến động bất thường từ bên ngoài. Năng lực của NHNN trong việc xây dựng và điều hành, quản lý và giám sát hoạt động tiền tệ - tín dụng - ngân hàng đã được nâng lên một tầm cao mới. Đây là những kết quả có ý nghĩa, là cơ sở để từng bước xây dựng một hệ thống ngân hàng phát triển lành mạnh và bền vững, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Xuân Thanh