TỔNG HỢP KIẾN NGHỊ CỬ TRI KỲ HỌP THỨ 11, QUỐC HỘI KHÓA XIII
LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ PHÁT HÀNH TIỀN, PHÍ DỊCH VỤ ATM, QUẢN LÝ TIỀN MẶT
1. Liên quan đến chất lượng đồng tiền và việc đề nghị thay thế chất liệu đồng tiền (cử tri tỉnh Đồng Nai).
Trả lời:
- Về chất lượng đồng tiền phát hành:
Trong quá trình lưu thông, chất lượng đồng tiền sẽ giảm dần theo thời gian sử dụng vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Đối với tiền giấy (tiền cotton), chủ yếu là do lấm bẩn; nhàu nát; sờn, rách. Đối với tiền polymer, chủ yếu là do mực in bị mòn trong quá trình sử dụng, dẫn đến phai màu, mất một phần hình ảnh, hoa văn trên đồng tiền.
Quá trình theo dõi chất lượng đồng tiền trong lưu thông của NHNN cho thấy, tiền polymer bền hơn, sạch hơn và có khả năng chống giả cao hơn tiền cotton trước đây, góp phần bảo vệ tốt hơn lợi ích của nhân dân và an ninh tiền tệ quốc gia. Nhìn chung, chất lượng đồng tiền trong lưu thông hiện nay đáp ứng yêu cầu của công chúng trong thanh toán hàng hóa, dịch vụ.
Để duy trì chất lượng đồng tiền trong lưu thông, khi khách hàng đến nộp tiền vào hệ thống ngân hàng, các ngân hàng phải phân loại và thu đổi những đồng tiền cũ, rách, nhàu nát, không đủ tiêu chuẩn lưu thông bằng tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông. Tuy nhiên, thực tế trong lưu thông vẫn có những đồng tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông, bởi nhiều lý do khách quan, chủ quan khác nhau mà vẫn còn những đồng tiền chưa được luân chuyển qua hệ thống ngân hàng để giữ lại, tiêu hủy, sau đó thay thế bằng tiền đủ tiêu chuẩn đưa vào lưu thông.
- Về đề nghị thay đổi chất liệu in tiền:
Đây là vấn đề lớn, cần được cân nhắc thận trọng và thuộc quyền quyết định của Trung ương, Chính phủ. Là cơ quan phát hành tiền, NHNN luôn nghiên cứu, cập nhật những phát triển mới của khoa học công nghệ (nhất là công nghệ vật liệu in tiền mới) để nâng cao chất lượng đồng tiền và sẽ có đề xuất phù hợp khi cần thiết, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công chúng về đồng tiền sạch đẹp hơn trong lưu thông. Thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục tăng cường công tác tuyển chọn, phân loại tiền để tăng cường chất lượng đồng tiền trong lưu thông.
2. Liên quan đến phí dịch vụ ATM (cử tri tỉnh Bình Dương).
Trả lời:
Thanh toán không dùng tiền mặt có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, góp phần tiết kiệm chi phí xã hội liên quan đến phát hành và lưu thông tiền mặt; tạo điều kiện thuận lợi để kiểm soát lạm phát; phát triển, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn trong nền kinh tế; nâng cao tính minh bạch trong chi tiêu tài chính từ ngân sách và sử dụng vốn nhà nước. Với vai trò cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, NHNN đã tích cực triển khai nhiều biện pháp để thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và thanh toán qua thẻ ngân hàng nói riêng.
Nhờ đó, những năm gần đây, phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đã được phát triển mạnh mẽ, đa dạng như thẻ ngân hàng, Internet banking, mobile banking... đã và đang đi vào cuộc sống. Một bộ phận dân cư (công chức, viên chức, học sinh, sinh viên, công nhân ở các khu công nghiệp...) đã có sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức và thói quen thanh toán không dùng tiền mặt thông qua các dịch vụ của ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi và là tiền đề quan trọng để giảm dần sự hiện diện của tiền mặt trong các hoạt đông thanh toán của nền kinh tế.
Về vấn đề cử tri quan tâm liên quan đến phí dịch vụ thanh toán: Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (Điều 91) và Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về thanh toán không dùng tiền mặt (Điều 17) quy định tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức phí cung ứng dịch vụ. Như vậy, theo các quy định hiện hành thì tổ chức tín dụng được quyền ấn định mức phí khi cung ứng dịch vụ cho khách hàng và phải niêm yết công khai cho khách hàng biết.
Đối với phí thẻ ATM, trên cơ sở nghiên cứu, lắng nghe ý kiến phản ánh từ dư luận xã hội, thực tiễn hoạt động cung ứng dịch vụ thẻ và hướng đến chủ trương phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của Chính phủ, NHNN đã ban hành Thông tư số 35/2012/TT-NHNN ngày 28/12/2012 quy định về phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa, trong đó có quy định Biểu khung mức phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa gồm 06 loại phí cơ bản như: phí phát hành thẻ, phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí chuyển khoản, phí vấn tin tài khoản, phí in sao kê. Qua thời gian theo dõi tình hình triển khai thực hiện cho thấy, mức phí áp dụng cho các loại phí cơ bản nêu trên đã được tổ chức phát hành thẻ thực hiện phù hợp với Biểu khung mức phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa tại Thông tư 35.
Thời gian qua, nhằm gia tăng tiện ích cho người sử dụng thẻ, các ngân hàng đã nghiên cứu, đầu tư máy móc thiết bị để cung ứng thêm các dịch vụ đi kèm với thẻ ATM như: SMS Banking, Internet Banking,.... Và để bù đắp chi phí đầu tư, mỗi loại dịch vụ tăng thêm được xác định một mức phí hợp lý để sử dụng sản phẩm dịch vụ đó, các khoản phí thu được này thực tế chỉ bù đắp được một phần trong tổng chi phí đầu tư hệ thống máy móc thiết bị để hiện đại hóa dịch vụ ngân hàng. Đây là các loại phí phát sinh không thường xuyên gắn với dịch vụ gia tăng, không bắt buộc khách hàng phải trả cho ngân hàng mà trên cơ sở nhu cầu sử dụng của khách hàng, dùng đến đâu trả đến đó.
NHNN sẽ tiếp tục theo dõi sát sao và lắng nghe ý kiến từ phía người dân, doanh nghiệp và ngân hàng thương mại để có sự điều chỉnh nếu thực sự cần thiết nhằm đảm bảo thực hiện chính sách, chủ trương về đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt. Đối với trường hợp tổ chức tín dụng vi phạm các quy định về việc thu phí dịch vụ thanh toán, NHNN sẽ xử lý theo quy định tại Nghị định số 96/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
3. Liên quan đến hành lang pháp lý quản lý việc sử dụng tiền mặt và đề xuất ban hành Luật quản lý và sử dụng tiền mặt (cử tri tỉnh Thái Nguyên).
Trả lời:
Hiện nay, liên quan đến quản lý nhà nước về hoạt động thanh toán nói chung và thanh toán bằng tiền mặt nói riêng, theo thẩm quyền, Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng tiền mặt, cụ thể như sau:
- Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010;
- Nghị định số 222/2013/NĐ-CP ngày 31/12/2013 của Chính phủ về thanh toán bằng tiền mặt;
- Thông tư số 33/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 quy định về một số trường hợp được thanh toán bằng tiền mặt của các tổ chức sử dụng vốn nhà nước;
- Thông tư số 09/2012/TT-NHNN ngày 10/4/2012 quy định việc sử dụng các phương tiện thanh toán để giải ngân vốn cho vay của tổ chức tín dụng;
- Thông tư số 164/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 quy định quản lý thu chi bằng tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước;
- Thông tư số 09/2015/TT-BTC ngày 29/01/2015 hướng dẫn giao dịch tài chính của doanh nghiệp.
Ngoài ra, còn có nhiều quy định khác được ban hành để đẩy mạnh việc thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam như:
- Quy định về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng; quy định về điều kiện của các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg ngày 29/12/2006 về việc phê duyệt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 tại Việt Nam;
- Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg ngày 24/8/2007 về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
- Quyết định số 2453/QĐ-TTg ngày 27/12/2011 phê duyệt Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015;
- Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về thanh toán không dùng tiền mặt;
- Quyết định số 1131/QĐ-NHNN ngày 30/5/2012 của Ngân hàng Nhà nước ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 2453/QĐ-TTg ngày 27/12/2011 phê duyệt Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015;
- Thông tư số 46/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014 hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt.
Như vậy, hiện nay về cơ bản, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt đã được ban hành tương đối đầy đủ như đã nêu trên. Những quy định về trường hợp được thanh toán bằng tiền mặt, trường hợp bắt buộc phải thanh toán không dùng tiền mặt (qua ngân hàng) đã được nghiên cứu thận trọng, phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta (như đối với khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa chưa tiếp cận được với dịch vụ ngân hàng hoặc các giao dịch nhỏ lẻ...) nhằm đảm bảo tính khả thi; đồng thời góp phần phòng chống tham nhũng (như những quy định về tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước và vốn nhà nước không được thanh toán bằng tiền mặt...).
Bên cạnh đó, để tăng cường công tác quản lý tiền mặt và từng bước hạn chế các giao dịch thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế nhằm cải thiện tính minh bạch trong các hoạt động kinh tế, góp phần hạn chế việc tham ô, tham nhũng, NHNN đã và đang triển khai các biện pháp như chỉ đạo các tổ chức tín dụng đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ thanh toán không dùng tiền mặt; đa dạng hóa các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt như dịch vụ ngân hàng trên Internet (Internet banking), dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động (Mobile banking), dịch vụ ngân hàng qua tin nhắn điện thoại di động (SMS banking),...; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt; đẩy mạnh công tác tuyên truyền về những rủi ro của việc sử dụng tiền mặt và lợi ích của việc thanh toán không dùng tiền mặt đem lại để từng bước thay đổi thói quen thanh toán của người dân.
Các chính sách NHNN triển khai thời gian qua đã góp phần tạo chuyển biến tích cực về việc sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế. Các giao dịch thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế đã từng bước được quản lý và có xu hướng giảm dần, nhất là những giao dịch thanh toán bằng tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước, của các doanh nghiệp nhà nước,... Tính đến cuối năm 2015, tỷ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán là 12,7%.
Tuy nhiên, việc thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế hiện nay còn được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Nhà ở. Theo đó, phương thức thanh toán đối với những giao dịch dân sự, thương mại, nhà ở trong nền kinh tế do các bên tự thỏa thuận.
2. Về đề xuất xem xét ban hành Luật quản lý và sử dụng tiền mặt:
Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục nghiên cứu, tổng kết, đánh giá việc thực hiện các quy định hiện hành về thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt cũng như tham khảo kinh nghiệm quốc tế về việc quản lý tiền mặt và thanh toán bằng tiền mặt để đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền xây dựng Luật quản lý và sử dụng tiền mặt nếu cần thiết.