Trước hết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) xin trân trọng cảm ơn Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch đã quan tâm, ủng hộ và đánh giá tích cực những nỗ lực hoạt động của ngành Ngân hàng trong thời gian vừa qua.
Trong phiên thảo luận của Quốc hội về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2016, Đại biểu có phát biểu một số nội dung liên quan đến lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng:
Trước mắt tôi nghĩ rằng mục tiêu rất khó là vấn đề làm sao giảm lãi suất ngân hàng. Trong điều kiện hiện nay, tất cả các nguồn lực tín dụng kể cả nhà nước doanh nghiệp đều dựa vào ngân hàng thương mại là bài toán rất khó.
Thứ hai, những đạt được về phương diện ổn định hệ thống ngân hàng, về tái cấu trúc là muốn lập cơ sở để nâng cao quản trị phát triển mới. Nếu như chúng ta không mạnh để giải quyết tận dụng lợi thế ổn định của ngày nay để phát triển thì việc bất ổn định sẽ tái trở lại nếu như chúng ta không có biện pháp mạnh trong nâng cao quản trị. Tôi ủng hộ cách làm như vậy.
Điểm cuối cùng trong vấn đề này là để kích thích tăng trưởng có lẽ NHNN tính toán tỷ lệ vay tín dụng phải bằng 3 lần tăng GDP, có nghĩa là bình quân phải ít nhất 20% trong giai đoạn tới.
Phải giải quyết đồng bộ giữa thị trường vốn, tức là thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm theo tinh thần tái cấu trúc. Hiện nay tất cả mọi gánh nặng đổ lên ngân hàng thương mại, từ nhà nước cho tới doanh nghiệp không thể nào giải quyết được bài toán về vốn.
Điểm cuối cùng tôi kiến nghị là để giải quyết bài toán nợ, gọi là nợ xấu ngân hàng. Tôi kiến nghị Quốc hội phải có nghị quyết để giải quyết căn cơ vấn đề này. Hiện nay chúng ta mới giải quyết một phần,chưa giải quyết căn cơ vấn đề.
Về vấn đề này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước giải trình như sau:
- Về việc giảm lãi suất:
Để góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ thị trường theo chủ trương của Chính phủ, trong thời gian qua, NHNN cùng với các TCTD đã tập trung thực hiện quyết liệt và đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, kịp thời hỗ trợ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế, trong đó có các giải pháp điều hành để giảm mạnh mặt bằng lãi suất cho vay. Cụ thể:
(i) Điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành của NHNN, quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND, đồng thời, điều chỉnh giảm mạnh trần lãi suất này làm cơ sở để các TCTD giảm lãi suất cho vay;
(ii) Quy định trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ (nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; doanh nghiệp nhỏ và vừa; công nghiệp hỗ trợ; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao) ở mức thấp hơn so với lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường khoảng 2-3%/năm;
(iii) Ban hành Quyết định số 2662/QĐ-NHNN ngày 16/12/2014 giảm mức lãi suất cho vay đối với các dự án thuộc chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp theo Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 05/3/2014 của Chính phủ kể từ ngày 01/01/2015 để hỗ trợ tốt hơn cho lĩnh vực nông nghiệp và đối tượng tham gia Chương trình này. Theo đó, lãi suất cho vay ngắn hạn giảm từ 7%/năm xuống mức 6,5%/năm; cho vay trung hạn giảm từ 10%/năm xuống mức 9,5%/năm; cho vay dài hạn giảm từ 10,5% xuống mức 10%/năm.
Trong năm 2015, trên cơ sở cân nhắc hài hòa diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ, tỷ giá và thị trường ngoại hối, NHNN tiếp tục duy trì ổn định các mức lãi suất điều hành, trần lãi suất huy động bằng VND, cũng như trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên. Thông qua các công cụ CSTT điều tiết thanh khoản của các TCTD hợp lý để tạo điều kiện cho các TCTD giảm lãi suất; điều chỉnh giảm lãi suất cho vay một số chương trình tín dụng xuống mức khoảng 6,5%-6,6%/năm để hỗ trợ tốt hơn một số ngành lĩnh vực đặc thù và các đối tượng chính sách.
Với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, mặt bằng lãi suất cho vay năm 2015 tiếp tục giảm 0,2-0,5%/năm so với cuối năm 2014, hiện phổ biến ở mức 6-9%/năm đối với ngắn hạn; khoảng 9-11%/năm đối với trung và dài hạn. Trong đó, lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên (bao gồm lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn) đã ở mức thấp 6-7%/năm, thậm chí đối với các doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, có phương án, dự án/phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả được ngân hàng cho vay với lãi suất thấp chỉ từ 5-6%/năm; lãi suất cho vay trung và dài hạn với các lĩnh vực ưu tiên xuống khoảng 9-10%/năm.
Trong thời gian tới, bám sát chủ trương của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, NHNN sẽ tiếp tục điều hành lãi suất chủ động, linh hoạt để điều tiết lãi suất thị trường ở mức hợp lý, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Đồng thời, trong quá trình điều hành, trên cơ sở cung-cầu vốn của thị trường, NHNN sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết thanh khoản của hệ thống TCTD hợp lý, đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế cũng như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, hộ dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng với lãi suất phù hợp.
- Về kiến nghị tỷ lệ vay tín dụng phải bằng 3 lần tăng GDP, có nghĩa là bình quân phải ít nhất 20% trong giai đoạn tới:
Tín dụng của hệ thống ngân hàng chỉ là một yếu tố đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bên cạnh các nguồn vốn khác như huy động vốn từ thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp, vốn tự có của doanh nghiệp, vốn đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy, việc mở rộng tăng trưởng tín dụng cần cân nhắc để đảm bảo tăng trưởng kinh tế dựa trên sự đa dạng về cơ cấu nguồn vốn đầu tư, tránh tình trạng tập trung quá mức vào vốn tín dụng ngân hàng và tạo gánh nặng cho hệ thống ngân hàng.
Bên cạnh đó, trong điều kiện Việt Nam là nước đang phát triển, lạm phát thường cao hơn các nước phát triển, mặc dù các năm gần đây lạm phát đã được kiểm soát ở mức thấp nhưng nguy cơ vẫn tiềm ẩn do chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế còn thấp, hiệu quả đầu tư chưa cao, cơ cấu chi phí sản xuất phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu… Do đó, trong thời gian tới, mức tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống cần tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ và cân nhắc trên cơ sở diễn biến của lạm phát, các yếu tố vĩ mô và khả năng cân đối vốn của hệ thống TCTD trong từng thời kỳ phù hợp với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững; không nên phụ thuộc vào một tỷ lệ nhất định giữa tăng trưởng tín dụng so với tăng trưởng kinh tế để tránh những tác động không thuận lợi đến an toàn của hệ thống TCTD và tác động trễ đến lạm phát những năm tiếp theo.
- Về việc giải quyết căn cơ vấn đề nợ xấu ngân hàng:
Trong điều kiện kinh tế vĩ mô còn nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh, thị trường chứng khoán, bất động sản trầm lắng, chậm phục hồi và không sử dụng ngân sách nhà nước cho tái cơ cấu, xử lý nợ xấu của các TCTD…, với sự quyết tâm của toàn ngành Ngân hàng và hệ thống chính trị, công tác xử lý nợ xấu đã và đang đi đúng mục tiêu, định hướng và lộ trình đề ra.
Từ năm 2012 đến hết tháng 9/2015, hệ thống các TCTD đã xử lý được 455,79 nghìn tỷ đồng1 nợ xấu, tương đương khoảng 98,09% tổng số nợ xấu ước tính tại thời điểm tháng 9/2012 thông qua các biện pháp: thu hồi nợ của khách hàng; bán, phát mại tài sản bảo đảm thu hồi nợ; sử dụng dự phòng rủi ro; bán nợ xấu... Trong đó:
(i) Các TCTD tự xử lý 264,44 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 58%, gồm:
(ii) Các TCTD bán nợ cho VAMC 191,35 nghìn tỷ đồng, chiếm 42% tổng nợ xấu đã xử lý
Với việc áp dụng đầy đủ chuẩn mực mới về phân loại nợ, từ Quý I/2015 nợ xấu của các TCTD đã được minh bạch hơn do không còn tồn tại 02 số liệu nợ xấu. Theo đó, số liệu nợ xấu TCTD báo cáo NHNN phù hợp với số liệu nợ xấu theo kết quả giám sát của NHNN do TCTD phải phân loại nợ theo kết quả xếp loại của Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia (CIC).
Kết quả xử lý nợ xấu nói trên đã đưa tỷ lệ nợ xấu đến tháng 9/2015 về mức 2,93% (tháng 9/2012 là 17,21%), hoàn thành sớm hơn mục tiêu đặt ra (đến cuối năm 2015 đạt mức dưới 3%) mà Đề án 843 đã đặt ra.
Kết quả này đã góp phần quan trọng cải thiện thanh khoản, giảm mặt bằng lãi suất cho vay, mở rộng khả năng tăng trưởng tín dụng nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, nợ xấu là vấn đề của toàn nền kinh tế, để giải quyết căn cơ vấn đề nợ xấu, cần phải có sự tham gia quyết liệt hơn nữa của các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp; đồng thời, cần tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp xử lý nhanh, dứt điểm nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước.
Về phía NHNN, trong thời gian tới sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ một số giải pháp sau: (i) Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, hiệu quả, sử dụng linh hoạt công cụ chính sách tiền tệ góp phần bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tăng trưởng kinh tế hợp lý và an toàn hệ thống ngân hàng; (ii) Tiếp tục chủ động phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương trong việc hỗ trợ, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện hỗ trợ xử lý và hạn chế phát sinh mới nợ xấu của TCTD; (iii) Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về hoạt động tín dụng, quản trị rủi ro, an toàn hoạt động của các TCTD, trong đó ban hành, triển khai và áp dụng các quy định về quản trị rủi ro của TCTD theo nguyên tắc Basel; triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ; tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của TCTD...; (iv) Tiếp tục đẩy mạnh công tác quản lý, thanh tra, giám sát các TCTD và bảo đảm an toàn hệ thống các TCTD; (v) chỉ đạo các TCTD tiếp tục tích cực, chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý nợ xấu; (vi) Đẩy mạnh hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm an toàn, hiệu quả; tăng cường năng lực về vốn, công nghệ và nguồn nhân lực của VAMC để VAMC triển khai thực hiện việc mua, bán nợ xấu theo cơ chế thị trường theo quy định của pháp luật và phương án được duyệt; (vii) Tiếp tục phối hợp các cơ quan chức năng hoàn thiện khung pháp lý về xử lý nợ xấu, giao dịch bảo đảm...
Bên cạnh việc triển khai các giải pháp thuộc thẩm quyền, NHNN sẽ tiếp tục rà soát, tập hợp các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách (đặc biệt là liên quan đến: tài sản bảo đảm, thế chấp; quá trình, thủ tục xét xử, thi hành án; các cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước tham gia xử lý tài sản bảo đảm và mua bán nợ xấu...) báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, phê duyệt để có các biện pháp mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa nhằm xử lý căn cơ nợ xấu.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đại biểu đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ hơn nữa của Đại biểu đối với hoạt động của ngành Ngân hàng.