Trước hết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) xin trân trọng cảm ơn Đại biểu Quốc hội Nguyễn Hữu Quang đã quan tâm, ủng hộ và đánh giá tích cực những nỗ lực hoạt động của ngành Ngân hàng trong thời gian vừa qua.
Tại phiên thảo luận tổ về tình hình phát triển kinh tế - xã hội ngày 02/11/2020 của Kỳ họp 10, Quốc hội khóa XIV, Đại biểu đã có ý kiến liên quan đến tính hiệu quả của Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.
Về vấn đề này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến giải trình cụ thể như sau:
a) Về xung đột pháp lý giữa các quy định của pháp luật về xử lý nợ xấu và ý nghĩa của Nghị quyết số 42/2017/QH14:
Qua quá trình tổng kết, đánh giá Kết quả xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 31/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng” và Đề án “Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam” (VAMC) về xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD (Quyết định số 843), NHNN nhận thấy cơ chế, chính sách về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm còn nhiều bất cập, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho TCTD, VAMC xử lý nợ xấu, cụ thể:
(i) Khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về xử lý nợ xấu chưa hoàn thiện, chưa bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của các tổ chức tín dụng,
(ii) Còn tồn tại khó khăn, vướng mắc, bất cập, xung đột pháp lý giữa các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động của hệ thống các TCTD với các văn bản quy phạm pháp luật khác, nhất là liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm, không bảo đảm quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm, dẫn đến ảnh hưởng lớn đến tiến trình xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD. Việc xử lý các khó khăn, vướng mắc về xung đột pháp lý nêu trên hỏi phải sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản pháp lý hoặc các Luật chuyên ngành khác nên thuộc thẩm quyền của Quốc hội và cần có thời gian để nghiên cứu, xử lý.
(iii) Pháp luật về thuế, phí liên quan đến xử lý nợ, tài sản bảo đảm còn nhiều vướng mắc bất cập;
(iv) Pháp luật về tố tụng chưa cho phép áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của bên bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm.
Những bất cập, thiếu hụt trong khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu nếu không được xử lý kịp thời sẽ dẫn tới các khó khăn và làm chậm tiến độ xử lý nợ xấu, qua đó có khả năng ảnh hưởng không tốt đến sự an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD. Chính vì vậy, việc Quốc hội thể chế hóa công tác xử lý nợ xấu thông qua việc xây dựng và ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết số 42) đã khắc phục các tồn tại, hạn chế trong công tác xử lý nợ xấu, tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất và đồng bộ về xử lý nợ xấu; tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, hỗ trợ các TCTD trong việc xử lý hiệu quả nợ xấu, bảo đảm các TCTD tiếp tục phát huy tốt vai trò là kênh dẫn vốn chủ đạo, đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế.
Sau hơn 03 năm áp dụng Nghị quyết số 42, Chính phủ đã chỉ đạo NHNN cùng với các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố triển khai nghiêm túc, nỗ lực đẩy mạnh xử lý nợ xấu theo đúng mục tiêu, định hướng; công tác xử lý nợ xấu đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các TCTD giảm liên tục qua các năm.
Trước khi có Nghị quyết số 42, nợ xấu của toàn hệ thống các TCTD chủ yếu được xử lý bằng dự phòng rủi ro, các biện pháp xử lý nợ xấu thông qua xử lý tài sản bảo đảm và khách hàng trả nợ còn chưa cao. Tuy nhiên, kể từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực (ngày 15/8/2017) đến 30/9/2020, xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết số 42 chủ yếu thông qua hình thức khách hàng tự trả nợ là 126,35 nghìn tỷ đồng (chiếm 40,46% tổng nợ xấu theo Nghị quyết số 42 đã xử lý), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu đã xử lý trung bình năm từ 2012-2017 là khoảng 22,8%.
Kết quả xử lý nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 thông qua hình thức khách hàng tự trả nợ tăng mạnh, phản ánh ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện. Khách hàng chủ động và hợp tác hơn trong việc trả nợ TCTD, hạn chế tình trạng chủ tài sản cố ý chây ỳ, chống đối nhằm kéo dài thời gian xử lý. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Nghị quyết số 42 đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.
Tuy nhiên, quá trình triển khai trong thực tế còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc1 như việc thu giữ tài sản bảo đảm (TSBĐ), thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ, mua bán khoản nợ xấu và phát triển thị trường mua bán nợ, việc hoàn trả TSBĐ là vật chứng trong vụ án hình sự, áp dụng thủ tục rút gọn trong xử lý tranh chấp tại Tòa án... Đặc biệt là khó khăn, vướng mắc liên quan đến công tác phối hợp triển khai, hướng dẫn từ các Bộ, ngành và địa phương. Bên cạnh đó, tác động của đại dịch Covid-19 làm cho quá trình xử lý nợ xấu trở nên khó khăn hơn.
b) Về việc thực hiện quyền thu giữ TSBĐ của TCTD:
- Khoản 2 Điều 17 Nghị quyết 42/2017/QH14 quy định: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Nghị quyết này và luật khác về cùng một vấn đề về xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu thì áp dụng quy định của Nghị quyết này.” Như vậy, trong trường hợp quy định tại Nghị quyết 42 khác với quy định của luật khác thì Nghị quyết 42 được ưu tiên áp dụng.
- Về khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện quyền thu giữ TSBĐ của TCTD:
Điều 7 Nghị quyết số 42 cho phép các TCTD có quyền thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu, phát đi thông điệp bảo vệ quan hệ có vay – có trả, khẳng định quyền của chủ nợ, là điều mà các TCTD đã mong mỏi. Tuy nhiên, để thực hiện được quyền này, các TCTD vẫn cần đến sự hỗ trợ của cơ quan công an các cấp.
Trong năm 2019, Bộ Công an đã tổ chức khảo sát, đánh giá công tác hỗ trợ TCTD đảm bảo an ninh, trật tự quá trình thu giữ TSBĐ theo quy định tại Nghị quyết số 42 tại Công an một số địa phương trọng điểm. Trên cơ sở kết quả khảo sát, Bộ Công an đã có Quyết định số 9018/QĐ-BCA-A04 ngày 19/11/2019 ban hành “Quy trình công tác đảm bảo an ninh trật tự quá trình thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết số 42” để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp đảm bảo an ninh, trật tự trong quá trình thu giữ TSBĐ theo Nghị quyết số 42. Đồng thời, Công an các đơn vị, địa phương trong toàn quốc đã chủ động phối hợp với các TCTD và VAMC triển khai đảm bảo tốt an ninh, trật tự cho hàng trăm lượt thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu .
Nhưng trên thực tế, việc thu giữ TSBĐ hiện nay vẫn phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí của bên vay (đặc biệt trong trường hợp khách hàng không hợp tác, cố ý chây ỳ trong việc bàn giao TSBĐ). Đồng thời, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan tại địa phương trong một số trường hợp chưa kịp thời (như xác minh thông tin khách hàng, hỗ trợ thu giữ TSBĐ)….cũng làm ảnh hưởng đến công tác xử lý thu hồi nợ xấu. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 42, một trong các điều kiện để TCTD có quyền thu giữ TSBĐ là “Tại hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý TSBĐ theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều Hợp đồng bảo đảm ký trước thời điểm Nghị quyết số 42 có hiệu lực không có nội dung trên và khách hàng không hợp tác với TCTD trong việc ký văn bản bổ sung nội dung này vào Hợp đồng bảo đảm. Do đó, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến TCTD gặp khó khăn khi tiến hành thu giữ TSBĐ theo Nghị quyết 42, đặc biệt trong trường hợp khách hàng không hợp tác với TCTD.
- Giải pháp trong thời gian tới:
Để xử lý những khó khăn, vướng mắc liên quan đến quyền thu giữ TSBĐ theo Nghị quyết số 42 trong thời gian tới, NHNN đã đề xuất Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương:
+ UBND tỉnh, thành phố:
(i) Tiếp tục rà soát, có các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo tới các cấp chính quyền cơ sở (phường xã) để hướng dẫn thực hiện theo Nghị quyết số 42 và phân công trách nhiệm hỗ trợ quá trình thực hiện phương án thu giữ TSBĐ.
(ii) Quy định cơ chế giải quyết các vấn đề phát sinh nhằm đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội của chính quyền địa phương các cấp và cơ quan công an nơi tiến hành thu giữ TSBĐ hỗ trợ tốt nhất quá trình TCTD tiến hành thu giữ TSBĐ tại địa phương.
(iii) Tiếp tục phát huy vai trò hiệu quả của Ban chỉ đạo thi hành án dân sự, chỉ đạo các cấp, các ngành tại địa phương phối hợp vớ hiệu quả trong công tác thi hành án dân sự nhất là các vụ việc phức tạp, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương, đối với những vụ việc cần sự vào cuộc của các cấp các ngành thì cần có chỉ đạo khẩn trương, quyết liệt.
+ Bộ Công an:
(i) Kiên quyết xử lý các cá nhân, tổ chức có hành vi chống đối, cản trở, đe dọa tính mạng, tinh thần của bên thu giữ tài sản để việc thu giữ TSBĐ được diễn ra thuận lợi, phù hợp quy định pháp luật.
(ii) Chỉ đạo Công an các cấp triển khai có hiệu quả “Quy trình công tác đảm bảo an ninh trật tự quá trình thu giữ TSBĐ theo Nghị quyết số 42” nhằm hỗ trợ giữ gìn an ninh trật tự cho cơ quan thi hành án dân sự cũng như các TCTD trong quá trình thu giữ TSBĐ.
+ Các cơ quan truyền thông:
(i) Tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức về xử lý nợ xấu đến toàn bộ các tầng lớp nhân dân để khách hàng và các bên liên quan trong công tác xử lý nợ có ý thức và chủ động thực hiện. Xây dựng và triển khai các hoạt động truyền thông, phù hợp với mọi đối tượng, địa bàn, tránh việc phổ biến, thực hiện Nghị quyết số 42 chỉ được triển khai tại các địa phương lớn.
(ii) Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền nhất là phát huy vai trò của người đứng đầu cơ quan, địa phương trong thực hiện Nghị quyết số 42 và công tác xử lý nợ xấu.
Trên cơ sở thực tế áp dụng chính sách tại Nghị quyết số 42 và kết quả tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020”, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, NHNN sẽ xây dựng, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chủ trương, định hướng, giải pháp cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu trong thời gian tới (trong đó bao gồm giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách về xử lý nợ xấu) nhằm tiếp tục hỗ trợ các TCTD trong việc xử lý hiệu quả nợ xấu, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu về cơ cấu lại hệ thống các TCTD.
Trên đây là giải trình của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về ý kiến của Đại biểu Quốc hội trong phiên thảo luận tổ về tình hình phát triển kinh tế - xã hội ngày 02/11/2020.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đại biểu đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ hơn nữa của Đại biểu đối với hoạt động của ngành Ngân hàng.
Trân trọng cảm ơn Đại biểu./.