Trước hết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) xin trân trọng cảm ơn Đại biểu Quốc hội Nguyễn Cao Sơn đã quan tâm, ủng hộ và đánh giá tích cực những nỗ lực hoạt động của ngành Ngân hàng trong thời gian vừa qua.
Trong phiên thảo luận của Quốc hội về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2016, Đại biểu có phát biểu một số nội dung liên quan đến lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng:
Cần tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt có cơ chế ưu đãi về lãi suất đối với các dự án đầu tư ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn. Nghiên cứu giảm lãi suất tín dụng trung và dài hạn xuống dưới 7%/năm. Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho việc xử lý nợ xấu để khơi thông dòng vốn.
Về vấn đề này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước giải trình như sau:
- Về việc giảm lãi suất trung và dài hạn:
Theo quy định tại Luật Các TCTD năm 2010 và Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc NHNN, TCTD thực hiện cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng. Trên thực tế, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ thị trường, từ năm 2012 đến nay, NHNN cùng với các TCTD đã tập trung thực hiện quyết liệt và đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, kịp thời hỗ trợ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế, trong đó có các giải pháp điều hành để giảm mạnh mặt bằng lãi suất cho vay, như:
- Điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành của NHNN, quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND, đồng thời điều chỉnh giảm mạnh trần lãi suất này làm cơ sở để các TCTD giảm lãi suất cho vay;
- Quy định trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ (nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; doanh nghiệp nhỏ và vừa; công nghiệp hỗ trợ; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao) ở mức thấp hơn so với lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường khoảng 2-3%/năm;
- Kêu gọi các NHTM Nhà nước điều chỉnh giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên về mức tối đa 10%/năm.
Trong năm 2015, trên cơ sở cân nhắc hài hòa diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ, tỷ giá và thị trường ngoại hối, NHNN tiếp tục duy trì ổn định các mức lãi suất điều hành, trần lãi suất huy động bằng VND, cũng như trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên; thông qua các công cụ CSTT điều tiết thanh khoản của các TCTD hợp lý, qua đó tạo điều kiện cho các TCTD giảm lãi suất; điều chỉnh giảm lãi suất cho vay một số chương trình tín dụng xuống mức khoảng 6,5-6,6%/năm để hỗ trợ tốt hơn một số ngành lĩnh vực đặc thù và các đối tượng chính sách.
Với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục giảm 0,2-0,5%/năm so với cuối năm 2014. Hiện mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến ở mức 6-9%/năm đối với ngắn hạn; lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến khoảng 9-11%/năm. Trong đó, lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên (bao gồm lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn) đã ở mức thấp 6-7%/năm, thậm chí đối với các doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, có phương án, dự án/phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả được ngân hàng cho vay với lãi suất thấp chỉ từ 5-6%/năm; lãi suất cho vay trung và dài hạn với các lĩnh vực ưu tiên xuống khoảng 9-10%/năm.
Như vậy, mặt bằng lãi suất cho vay của ngành Ngân hàng (trong đó bao gồm cả lãi suất cho vay trung, dài hạn) đã giảm mạnh, góp phần tạo điều kiện giảm bớt khó khăn, thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh. Trong thời gian tới, bám sát chủ trương, chỉ đạo của Quốc hội và Chính phủ, NHNN điều hành lãi suất phù hợp với các cân đối vĩ mô, tiền tệ, xu hướng của lạm phát và lạm phát kỳ vọng nhằm góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
- Về cơ chế ưu đãi về lãi suất đối với các dự án đầu tư ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn:
Bên cạnh các chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và các chương trình tín dụng đặc thù hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, Chính phủ và NHNN đã ban hành một số chính sách tín dụng hỗ trợ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, cụ thể:
- Cho vay thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn theo Quyết định 92/2009/QĐ-TTg ngày 8/7/2009 (do Bộ Tài chính là đơn vị chủ quản chương trình): Nhằm phát triển thương mại ở địa bàn miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc góp phần thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Mức cho vay tối đa với cá nhân là 100 triệu đồng, với tổ chức kinh tế là 500 triệu đồng. Lãi suất cho vay hiện nay là 9,6%/năm.
- Thông tư số 06/2009/TT-NHNN ngày 09/4/2009 của NHNN quy định chi tiết về chính sách cho vay ưu đãi lãi suất theo chương trình hỗ trợ các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ. Theo đó, ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay cho các doanh nghiệp vay vốn tại các ngân hàng thương mại nhà nước để phát triển sản xuất nông nghiệp, đầu tư cơ sở chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản tại các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a.
- Về hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho xử lý nợ xấu:
Sau 3 năm triển khai Đề án xử lý nợ xấu của các TCTD Việt Nam trong điều kiện nhiều yếu tố không thuận lợi (kinh tế vĩ mô còn nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh, thị trường chứng khoán, bất động sản trầm lắng, chậm phục hồi và không sử dụng ngân sách nhà nước cho tái cơ cấu, xử lý nợ xấu của các TCTD…), bằng sự quyết tâm, nỗ lực của toàn ngành Ngân hàng dưới sự chỉ đạo sát sao của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, sự hỗ trợ của các Bộ, ngành, địa phương, Đề án xử lý nợ xấu đã được triển khai theo đúng mục tiêu, định hướng, lộ trình, giải pháp đề ra và đạt được nhiều kết quả quan trọng:
Từ năm 2012 đến hết tháng 9/2015, hệ thống các TCTD đã xử lý được 455,79 nghìn tỷ đồng1 nợ xấu, tương đương khoảng 98,09% tổng số nợ xấu ước tính tại thời điểm tháng 9/2012 thông qua các biện pháp: thu hồi nợ của khách hàng; bán, phát mại tài sản bảo đảm thu hồi nợ; sử dụng dự phòng rủi ro; bán nợ xấu... Trong đó:
(i) Các TCTD tự xử lý 264,44 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 58%, gồm:
(ii) Các TCTD bán nợ cho VAMC 191,35 nghìn tỷ đồng, chiếm 42% tổng nợ xấu đã xử lý
Với việc áp dụng đầy đủ chuẩn mực mới về phân loại nợ, từ Quý I/2015 nợ xấu của các TCTD đã được minh bạch hơn do không còn tồn tại 02 số liệu nợ xấu. Theo đó, số liệu nợ xấu TCTD báo cáo NHNN phù hợp với số liệu nợ xấu theo kết quả giám sát của NHNN do TCTD phải phân loại nợ theo kết quả xếp loại của Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia (CIC).
Kết quả xử lý nợ xấu nói trên đã đưa tỷ lệ nợ xấu đến tháng 9/2015 về mức 2,93% (tháng 9/2012 là 17,21%), hoàn thành sớm hơn mục tiêu đặt ra (đến cuối năm 2015 đạt mức dưới 3%) mà Đề án 843 đã đặt ra.
Kết quả này đã góp phần quan trọng cải thiện thanh khoản, giảm mặt bằng lãi suất cho vay, mở rộng khả năng tăng trưởng tín dụng nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, nợ xấu là vấn đề của toàn nền kinh tế, để giải quyết nhanh và triệt để nợ xấu, cần phải có sự tham gia của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp hiệu quả hơn nữa của các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Trong thời gian tới, nhằm tiếp tục triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp nêu tại Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD để duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 3% một cách bền vững, trong phạm vi thẩm quyền của mình, NHNN sẽ tiếp tục thực hiện quyết liệt một số biện pháp để hoàn thiện khung pháp lý cho việc xử lý nợ xấu như sau:
- Tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định, chính sách về hoạt động tín dụng theo hướng: (i) đảm bảo phải có sự tham gia vốn hợp lý của chủ đầu tư trong các dự án đầu tư; (ii) nâng cao nguyên tắc, kỷ luật thị trường trong hoạt động tín dụng; (iii) công khai, minh bạch, tăng cường sự giám sát của thị trường, nhà đầu tư và người gửi tiền đối với hoạt động tín dụng; (iv) hạn chế, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng đối với cổ đông lớn và người có liên quan; (v) phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động tín dụng; (vi) tăng cường trách nhiệm của hội đồng quản trị, hội đồng thành viên, ban kiểm soát và ban điều hành đối với hoạt động tín dụng.
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về tổ chức, hoạt động và tài chính của VAMC; nghiên cứu, bổ sung quy định pháp luật đối với những vấn đề đặc thù về tổ chức, hoạt động, tài chính và thẩm quyền của VAMC.
- Tham mưu Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành nghiên cứu, hỗ trợ tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý nợ xấu và hoạt động của VAMC; sớm hoàn thiện các cơ chế, chính sách, văn bản pháp lý liên quan đến xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của TCTD, VAMC, đặc biệt là các Bộ Luật sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Tố tụng dân sự, Bộ Luật Hình sự và các văn bản hướng dẫn các Bộ Luật này cũng như các Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Doanh nghiệp,…
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đại biểu đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ hơn nữa của Đại biểu đối với hoạt động của ngành Ngân hàng.