Ngày 07/12/2017, Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố kết quả cải cách các quy định Basel III và lùi thời hạn áp dụng bắt đầu sang năm 2022 nhằm giúp các ngân hàng có đủ thời gian để triển khai thực hiện.
Đây là công trình nghiên cứu do Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng phối hợp với một số Thống đốc ngân hàng trung ương (NHTW) tiến hành, sau khi phát hiện nhiều hạn chế trong hệ thống ngân hàng toàn cầu.
Năm 2010, khung khổ Basel III (Thỏa thuận Basel lần thứ ba) được hình thành nhằm đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu, khắc phục hàng loạt hạn chế của những quy định Basel trước đó và cung cấp nền tảng đảm bảo tính bền vững của hệ thống ngân hàng, góp phần ngăn ngừa những tổn thất hệ thống có thể xảy ra trong tương lai. Cải cách 2017 tiếp tục khắc phục những yếu kém của hệ thống ngân hàng, nhất là xung quanh thời điểm xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Bao gồm:
a) Độ tin cậy của khung khổ Basel
Hàng loạt nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, sự khác biệt khá lớn giữa các ngân hàng về tài sản rủi ro (RWA) không thể chỉ được giải thích thông qua mức độ rủi ro khác nhau trong danh mục tài sản của ngân hàng. Sự khác biệt này gây khó khăn cho việc so sánh tỷ trọng vốn giữa các ngân hàng và làm giảm độ tin cậy của tỷ trọng vốn. Cải cách đã xử lý những hạn chế này nhằm lấy lại độ tin cậy về khung khổ nguồn vốn rủi ro.
b) Mô hình nội bộ
Các mô hình nội bộ cần cho phép tính toán rủi ro một cách chính xác hơn so với những cách tiếp cận của các cơ quan giám sát. Tuy nhiên, vẫn còn động lực điều chỉnh giảm quyền số rủi ro khi các mô hình nội bộ được sử dụng để điều chỉnh những yêu cầu về vốn tối thiểu. Hơn nữa, một số loại tài sản như rủi ro vỡ nợ thấp không thể được tính toán một cách đầy đủ và tin cậy. Cải cách đã chỉ ra những hạn chế trong mô hình ước lượng, khi các ngân hàng sử dụng mô hình nội bộ để xác định mục tiêu về vốn.
Những thay đổi chủ yếu của Basel III
1. Nâng tỷ trọng và chất lượng vốn
Cải cách yêu cầu các ngân hàng nắm giữ lượng vốn cao hơn và với chất lượng cao hơn nhằm bù đắp những thiệt hại không kỳ vọng. Cụ thể là, nâng tỷ trọng vốn cấp I tối thiểu lên 6%, cao hơn quy định ban đầu là 4%. Trong đó, nguồn vốn chất lượng cao phải chiếm ít nhất ¾ lượng vốn này (tỷ trọng cổ phần thường và lợi nhuận giữ lại), các ngân hàng chiến lược toàn cầu (G-SIBs) phải tuân thủ yêu cầu về vốn tăng thêm này.
2. Nâng cao khả năng nắm bắt rủi ro
Trong đó, tăng đáng kể yêu cầu về vốn để đối phó với rủi ro thị trường, được tính toán đề phòng áp lực thị trường trong 12 tháng.
Khung cải cách cũng bao gồm việc điều chỉnh rủi ro tín dụng. Cụ thể là, rà soát lại cách tiếp cận chuẩn mực về tính toán rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, điều chỉnh giá trị tín dụng và rủi ro hoạt động, nâng cao tính nhạy cảm về rủi ro và khả năng so sánh rủi ro. Mục tiêu của việc hạn chế sử dụng các mô hình nội bộ là giảm mức độ biến đổi không bảo đảm trong việc tính toán RWAs của ngân hàng.
3. Điều chỉnh tỷ lệ đòn bẩy bắt buộc
Tỷ lệ đòn bẩy bắt buộc được xây dựng dựa trên những khoản vay nợ để tài trợ hoạt động đầu tư và hoạt động của ngân hàng (gọi là đòn bẩy ngân hàng), góp phần hạn chế rủi ro của vòng xoáy giảm đòn bẩy trong thời kỳ suy giảm. Trong đó, các G-SIB phải duy trì tỷ lệ đòn bẩy cao hơn.
4. Cải thiện thanh khoản ngân hàng
Tỷ lệ thanh khoản bảo đảm đòi hỏi các ngân hàng phải duy trì đủ lượng tài sản có khả năng chuyển đổi sang tiền mặt trong 30 ngày trong thời kỳ khó khăn. Tỷ lệ nguồn quỹ ổn định ròng khuyến khích các ngân hàng hạn chế sai lệch kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ.
5. Hạn chế tính chu kỳ
Các ngân hàng cần giữ lại lợi nhuận để hình thành nguồn vốn đệm trong những giai đoạn kinh tế tăng cao, và nguồn vốn đệm này có thể giảm trong thời kỳ kinh tế khó khăn.
6. Tập trung vào tài sản rủi ro
Trong giai đoạn đầu, Basel III tập trung chủ yếu vào phần vốn khi tính toán tỷ trọng vốn (tử số), cải cách 2017 tập trung vào việc tính toán mẫu số trong công thức tính RWAs.
Nguồn vốn đầu tư của ngân hàng bắt nguồn từ nguồn vốn tự có và nguồn vốn vay, như tiền gửi của khách hàng. Vốn điều chỉnh đòi hỏi các ngân hàng phải hấp thụ được lỗ, góp phần hạn chế nguy cơ vỡ nợ và tác động tiêu cực kèm theo. Nguồn vốn điều chỉnh bao gồm: (i) Vốn cổ phần cấp 1 - cổ phần thường, lợi nhuận giữ lại và những khoản dự trữ khác; (ii) Vốn cấp 1 bổ sung - những công cụ vốn không cố định thời hạn đáo hạn; (iii) Vốn cấp 2 - nợ thứ cấp và dự trữ rủi ro tín dụng chung.
Tỷ trọng vốn rủi ro được tính bằng tỷ trọng giữa nguồn vốn điều chỉnh so với phần tài sản rủi ro. Tài sản rủi ro càng lớn, nguồn vốn điều chỉnh càng càng tăng cao, và ngược lại.
7. Nâng cao khả năng xử lý rủi ro tín dụng
Hiện nay, có hai cách tiếp cận rộng rãi để tính toán rủi ro tín dụng: Cách tiếp cận chuẩn mực và cách tiếp cận dựa trên đánh giá nội bộ. Phần lớn các ngân hàng trên thế giới sử dụng cách tiếp cận chuẩn mực (SA) để tính toán rủi ro tín dụng. Theo đó, các cán bộ giám sát điều chỉnh các quyền số rủi ro mà ngân hàng áp dụng để phát hiện rủi ro, qua đó xác định RWAs. Nghĩa là, các ngân hàng không sử dụng mô hình nội bộ để tính toán RWAs. Những thay đổi chính trong SA khi tính toán rủi ro tín dụng bao gồm:
- Nâng cao mức độ nhạy cảm rủi ro tín dụng, trong khi duy trì SA để tính toán rủi ro tín dụng một cách đơn giản - cung cấp cách tiếp cận quyền số rủi ro chi tiết hơn thay vì quyền số rủi ro đồng đều, nhất là đối với tín dụng dân cư và cho vay bất động sản thương mại;
- Giảm sự phụ thuộc vào cơ quan xếp hạng tín dụng bên ngoài. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải quản lý thật thận trọng khi sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng bên ngoài, và có cách tiếp cận không xếp hạng thật chi tiết để xử lý theo pháp luật mà không thể hoặc không muốn lệ thuộc vào cơ quan xếp hạng bên ngoài.
Trong chừng mực nào đó, cách tiếp cận xếp hạng nội bộ (IRB) về tính toán rủi ro tín dụng cho phép các ngân hàng sử dụng mô hình nội bộ để ước lượng rủi ro tín dụng và RWAs. Cải cách 2017 đã chỉ ra một số hạn chế khi ước lượng các tham số rủi ro. Có hai cách tiếp cận IRB cơ bản, IRB cơ sở (F-IRB) và IRB tiên tiến (A-IRB).
Thay đổi chính trong cách tiếp cận IRB để đánh giá rủi ro tín dụng là: (i) Loại bỏ sự lựa chọn của các định chế tài chính và những tập đoàn lớn khi sử dụng A-IRB để phát hiện rủi ro; (ii) Nếu ngân hàng vẫn duy trì cách tiếp cận IRB, cần giảm thiểu mức áp dụng để tính toán khả năng vỡ nợ và tính toán những đầu vào khác.
8. Đơn giản hóa cách thức xử lý rủi ro hoạt động
Khủng hoảng tài chính đã nhấn mạnh những yếu kém trong việc tính toán yêu cầu về vốn đối với rủi ro hoạt động, hoặc rủi ro thiệt hại do quy trình nội bộ sai lầm hoặc không đầy đủ, bắt nguồn từ yếu tố con người, hệ thống hay những sự kiện bên ngoài. Trong đó, yêu cầu về vốn không đủ để bù đắp những thiệt hại do một số ngân hàng gây ra. Và rất khó dự báo nguồn gốc của những thiệt hại đó (bao gồm tiền phạt do quản lý kém hay yếu kém hệ thống và thiếu kiểm soát), nếu sử dụng mô hình nội bộ.
Cải cách 2017 bao gồm: Đơn giản hóa khung tiếp cận bằng cách thay thế 4 cách tiếp cận hiện hành bằng cách tiếp cận chuẩn mực riêng; tạo ra khung khổ nhạy cảm hơn nhờ kết hợp cách tính toán tinh xảo về thu nhập ròng với mức lỗ lịch sử của nội bộ ngân hàng trong 10 năm; việc loại bỏ sự lựa chọn khi sử dụng cách tiếp cận đa dạng và sự lựa chọn khi sử dụng mô hình nội bộ tạo thuận lợi cho việc so sánh RWAs giữa các ngân hàng.
9. Nâng tỷ trọng đòn bẩy đổi với những ngân hàng lớn
Theo quy định Basel III, tỷ lệ đòn bẩy áp dụng cho các ngân hàng quốc tế tối thiểu là 3% đối với vốn cấp 1, qua đó có thể hạn chế hình thành đòn bẩy quá mức.
Tỷ trọng đòn bẩy hỗ trợ cho mỗi G-SIB sẽ điều chỉnh ở tỷ lệ 50% đối với phần vốn dự phòng rủi ro. Thí dụ, nếu ngân hàng có mức vốn đệm rủi ro là 2%, thì phải nâng tỷ trọng đòn bẩy thêm 1%, qua đó sẽ đưa tỷ trọng đòn bẩy tối thiểu lên 4%.
10. Hình thành sàn thu nhập lành mạnh hơn và nhạy cảm với rủi ro
Cải cách 2017 thay thế mức sàn về vốn hiện hành bằng sàn thu nhập lành mạnh hơn và nhạy cảm với rủi ro, dựa trên các cách tiếp cận chuẩn mực đã điều chỉnh. Trong đó, sàn thu nhập điều chỉnh sẽ giới hạn phần lợi nhuận vốn mà ngân hàng có thể thu được từ việc sử dụng các mô hình nội bộ, tương ứng với việc sử dụng các cách tiếp cận chuẩn mực. Mô hình nội bộ về tính toán RWAs không thể tạo ra kết quả tổng hợp, không bằng 72,5% RWAs khi tính toán theo các cách tiếp cận chuẩn mực. Nghĩa là, giảm tới 27,5% lợi nhuận mà ngân hàng có thể thu được, nếu sử dụng mô hình tính toán nội bộ.
Xuân Thanh (Nguồn: BIS tháng 12/2017)