Ngày 08/4/2020, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) thuộc Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố báo cáo điều tra kết quả thực hiện các chuẩn mực Basel III đến cuối tháng 6/2019.
Tại báo cáo này, các chuyên gia đã tiến hành khảo sát tổng cộng 174 ngân hàng, bao gồm 105 ngân hàng quốc tế hàng đầu - ngân hàng nhóm 1 (G1) và 69 ngân hàng nhóm 2 (G2). Trong nhóm 1, có 30 ngân hàng chiến lược toàn cầu G-SIBs -ngân hàng có nguồn vốn cổ phần cấp 1 CET1) đạt trên 3 tỷ euro.
Kết quả rà soát
31/12/2018 |
30/6/2019 |
|||||
G 1 |
G-SIB* |
G 2 |
G1 |
G-SIB* |
G2 |
|
Đối chiếu với khung khổ Basel III ban đầu |
||||||
Tỷ lệ CET1 (%) |
12,7 |
12,6 |
15,4 |
12,8 |
12,7 |
14,8 |
Thiếu hụt vốn mục tiêu (tỷ Eur) |
1,9 |
0,0 |
1,1 |
1,7 |
0,0 |
1,1 |
Trong đó: CET1 |
0,2 |
0,0 |
0,0 |
0,4 |
0,0 |
0,0 |
Vốn cấp 1 bổ sung |
1,7 |
0,0 |
1,1 |
1,3 |
0,0 |
1,1 |
Vốn cấp 2 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Thiếu hụt TLAC tối thiểu 2022 ** |
32,6 |
32,6 |
32,5 |
32,5 |
||
Tổng tài sản kế toán (tỷ Eur) |
64.271 |
43.849 |
4.064 |
65.855 |
47.174 |
3.581 |
LR (%) |
6,0 |
6,1 |
5,5 |
5,8 |
5,8 |
5,2 |
LCR (%) |
136,2 |
134,0 |
177,2 |
136,2 |
134,3 |
177,0 |
NSFR (%) |
116,3 |
117,8 |
120,0 |
116,4 |
117,8 |
120,1 |
Đối chiếu với khung khổ Basel III cuối cùng (2028) - đã giảm chênh lệch ước lượng |
||||||
Thay đổi MRC cấp 1 so mục tiêu (%) |
3,0 |
3,4 |
8,5 |
2,5 |
2,7 |
7,5 |
CET1 (%) |
12,2 |
12,1 |
13,0 |
12,3 |
12,3 |
12,2 |
Thiếu hụt vốn mục tiêu (tỷ Eur) |
24,7 |
22,8 |
3,8 |
16,6 |
14,6 |
3,4 |
Trong đó: CET1 |
7,0 |
6,0 |
1,8 |
7,6 |
6,4 |
1,7 |
Vốn cấp 1 bổ sung |
10,1 |
9,2 |
1,1 |
5,6 |
4,7 |
0,7 |
Vốn cấp 2 |
7,6 |
7,6 |
0,9 |
3,4 |
3,4 |
1,0 |
Thiếu hụt TLAC tối thiểu 2022 ** |
78,0 |
78,0 |
42,7 |
42,7 |
||
Đối chiếu với khung khổ Basel III cuối cùng (2028)- theo ước lượng ban đầu |
||||||
Thay đổi MRC cấp 1 so mục tiêu (%) |
3,0 |
3,4 |
8,5 |
2,8 |
3,1 |
7,5 |
CET1 (%) |
12,2 |
12,1 |
13,0 |
12,3 |
12,2 |
12,2 |
Thiếu hụt vốn mục tiêu (tỷ Eur) |
24,7 |
22,8 |
3,8 |
20,3 |
18,3 |
3,4 |
Trong đó: CET1 |
7,0 |
6,0 |
1,8 |
7,6 |
6,4 |
1,7 |
Vốn cấp 1 bổ sung |
10,1 |
9,2 |
1,1 |
5,6 |
4,7 |
0,7 |
Vốn cấp 2 |
7,6 |
7,6 |
0,9 |
7,1 |
7,1 |
1,0 |
Thiếu hụt TLAC tối thiểu 2022 ** |
78,0 |
78,0 |
46,5 |
46,5 |
||
Nguồn: BCBS tháng 04/2020
(*): Thuộc G1
(**): Tỷ euro
Báo cáo nêu rõ, trước đại dịch Covid-19, các G-SIB tiếp tục cải thiện theo hướng đáp ứng yêu cầu về vốn theo khung khổ Basel III và tỷ lệ thanh khoản của nhóm ngân hàng này vẫn ổn định so với thời điểm cuối năm 2018.
Để đánh giá tác động của khung khổ Basel III đối với các ngân hàng, BCBS đã thiết lập khung khổ giám sát định kỳ sáu tháng một lần nhằm theo dõi theo dõi hiệu quả và các động lực cải cách, đồng thời đánh giá tác động của khung khổ Basel III đối với các ngân hàng, tập trung vào việc thực hiện các yêu cầu về tỷ trọng vốn dựa trên rủi ro, tỷ lệ đòn bẩy và thanh khoản. Nguồn dữ liệu đánh giá do các ngân hàng và cơ quan giám sát quốc gia cung cấp, bao gồm các dữ liệu về rủi ro tín dụng của các bên đối tác và giá trị tín dụng đã điều chỉnh rủi ro.
Theo thỏa thuận gần đây giữa các thống đốc ngân hàng trung ương và lãnh đạo các cơ quan giám sát, việc thực hiện yêu cầu tối thiểu về vốn theo khung khổ Basel III bắt đầu từ ngày 01/01/2023, và áp dụng đầy đủ trước ngày 01/01/2028. Tác động trung bình của yêu cầu vốn cấp 1 tối thiểu (MRC) theo khung khổ Basel III đối với các ngân hàng nhóm 1 giảm xuống tỷ trọng 2,5% (sau khi giảm chênh lệch ước lượng), giảm từ mức tăng 3,0% trong kỳ báo cáo trước đây.
So với báo cáo lần trước (tính đến cuối năm 2018), tỷ trọng vốn cổ phần cấp 1 (CET1) theo khung khổ Basel III tăng từ tỷ lệ 12,7% lên 12,8% tại ngân hàng nhóm 1 và giảm từ tỷ lệ 15,4% xuống 14,8% tại ngân hàng nhóm 2. Tác động trung bình của khung khổ Basel III đối với ngân hàng nhóm 1 giảm xuống mức tăng 2,5% (trong phần đã khấu trừ chênh lệch ước lượng). Liên quan đến cách tính này, hai trong số 30 G-SIBs có chi phí thấp hơn khung rủi ro thị trường rà soát theo giả thiết ban đầu, là không có thay đổi nào từ khung rủi ro thị trường rà soát được tính toán trong báo cáo này. Nếu đối chiếu với dữ liệu về rủi ro thị trường theo ước lượng ban đầu, mức tăng sẽ là 2,8%.
Tính đến cuối tháng 6/2019, tổng mức thiếu hụt về vốn tại các ngân hàng nhóm 1 là 16,6 tỷ euro, giảm so với mức thiếu hụt 24,7 tỷ euro trong sáu tháng trước đây. Nếu theo giả thiết ban đầu, mức thiếu hụt chỉ giảm nhẹ từ 24,7 tỷ euro xuống 20,3 tỷ euro.
Đối chiếu với yêu cầu về khả năng hấp thụ lỗ tổng thể (TLAC) tối thiểu theo khung khổ Basel III, ba trong số 25 G-SIBs báo cáo mức thiếu hụt 35,2 tỷ euro, tăng so với mức thiếu hụt 32,6 tỷ euro trước đây (tính đến cuối năm 2018).
Kết quả giám sát cũng thu thập các dữ liệu về thanh khoản. Theo đó, tỷ lệ thanh khoản an toàn (LCR) ổn định ở mức 136% tại các ngân hàng nhóm 1 và 177% tại các ngân hàng nhóm hai, tất cả các ngân hàng trong mẫu điều tra đều báo cáo là đáp ứng 100% yêu cầu về LCR hoặc cao hơn. Tỷ trọng bình quân gia quyền quỹ bình ổn ròng (NSFR) ổn định tại các ngân hàng nhóm 1 (116%) và các ngân hàng nhóm 2 (120%). Khoảng 96% số ngân hàng trong mẫu điều tra báo cáo đáp ứng 100% hoặc vượt yêu cầu tối thiểu về NSFR, trong khi 90% số ngân hàng báo cáo đáp ứng trên 90%.
Hoàng Thế Thỏa
Nguồn: BIS tháng 04/2020