Trước hết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xin trân trọng cảm ơn Đại biểu Quốc hội Vũ Tiến Lộc đã quan tâm đến hoạt động của ngành Ngân hàng.
Về ý kiến của Đại biểu trong phiên thảo luận toàn thể tại Hội trường về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 và kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 ngày 02-03/11/2016 “Đối với mục tiêu lạm phát, mấy năm nay chúng ta đặt mục tiêu lạm phát 5%, lãi suất cũng vì thế được gắn theo mục tiêu này nhưng cuối cùng lạm phát chỉ có 1% đến 2%, kết quả là lãi suất bị neo ở mức quá cao so với lạm phát và những người chịu hậu quả chính là doanh nghiệp và nhà nước…”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trân trọng tiếp thu ý kiến Đại biểu để phục vụ công tác hoạch định, điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong thời gian tới, đồng thời cũng có ý kiến giải trình thêm với Đại biểu cụ thể như sau:
Việc điều hành lãi suất được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện trên cơ sở bám sát diễn biến của lạm phát, kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ, đảm bảo hài hòa lợi ích của người gửi tiền, tổ chức tín dụng và người vay. Theo đó, lãi suất cần được duy trì ở một mức phù hợp để tạo sự hấp dẫn của đồng Việt Nam, tránh tình trạng chuyển dịch sang ngoại tệ hoặc ảnh hưởng đến giá vàng, đầu cơ tỷ giá gây bất ổn kinh tế vĩ mô đồng thời, đảm bảo tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Thực tế cho thấy, trong bối cảnh vào đầu năm 2011, lạm phát tăng cao, diễn biến kinh tế vĩ mô có nhiều khó khăn, NHNN đã kiên định thực hiện các giải pháp nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô theo đó lạm phát đã giảm từ mức cao 23% vào tháng 8/2011 xuống còn một con số từ năm 20121. Mặt bằng huy động và cho vay đã giảm mạnh, trong đó lãi suất cho vay phổ biến ở mức 6-11%/năm, và chỉ bằng khoảng 40% mức lãi suất cuối năm 2011, tương đương mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006 là giai đoạn kinh tế phát triển ổn định.
Lạm phát năm 2014-2015 tăng thấp (tương ứng 1,84% và 0,6% so với mục tiêu khoảng 5%) chủ yếu do giá thế giới giảm mạnh, giá Nhà nước quản lý giữ ổn định hoặc ít điều chỉnh so với các năm trước đó. Tuy nhiên, đây là các yếu tố tạm thời, đòi hỏi điều hành chính sách phải thận trọng. Thực tế lạm phát năm 2016 đã có xu hướng tăng cao hơn (tháng 10/2016, CPI tăng 4% so với cuối năm 2015). Ngay cả Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) năm 2015 cũng đã khuyến cáo các quốc gia không nên chủ quan đối với nguy cơ lạm phát và thực hiện nới lỏng tiền tệ.
Những tháng đầu năm 2016, mặc dù có sức ép tăng do kỳ vọng lạm phát tăng (giá thế giới và giá các mặt hàng Nhà nước điều chỉnh tăng), nhu cầu phát hành trái phiếu chính phủ lớn, nhưng với các giải pháp điều hành đồng bộ của NHNN và nỗ lực tiết giảm chi phí của các TCTD, mặt bằng lãi suất sau khi tăng 0,2-0,3%/năm trong 3 tháng đầu năm đã ổn định, và từ cuối tháng 9/2016, một số TCTD lớn đã điều chỉnh giảm 0,3-0,5%/năm lãi suất huy động và khoảng 0,5-1%/năm lãi suất cho vay.
Có thể nói, mặt bằng lãi suất hiện nay theo đánh giá của các chuyên gia trong và ngoài nước là kết quả tích cực của việc điều hành chính sách tiền tệ, phù hợp với chỉ số lạm phát thực tế và lạm phát kỳ vọng; đồng thời, là mức lãi suất tích cực cho các doanh nghiệp trong lộ trình từng bước hạ lãi suất để hỗ trợ sản xuất kinh doanh những năm qua và năm 2016, đảm bảo hài hòa lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra cũng như quyền lợi của người gửi tiền và người vay vốn.
Trên đây là giải trình của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về ý kiến của Đại biểu Quốc hội Vũ Tiến Lộc trong phiên thảo luận Hội trường về kinh tế - xã hội ngày 02-03/11/2016. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ hơn nữa của Đại biểu đối với hoạt động của ngành Ngân hàng.